Lưu trữ

Archive for the ‘ANTG Cuối tháng’ Category

Người giữ Sổ tiết kiệm của Bác Hồ

Tháng Năm 6, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Mười một năm ông được trực tiếp phục vụ Bác Hồ, trong đó nhiều năm là Trưởng phòng Văn thư của Văn phòng Phủ Chủ tịch. Sau khi Bác Hồ mất, cũng chừng ấy năm, ông là Thư ký riêng của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Nhưng có một điều ít người được biết về ông: ông là người đứng tên “Lê Hữu Lập” trên Sổ tiết kiệm của Bác Hồ, lo nhiều việc chi tiêu của Bác do chính Bác giao.

Ông tiếp tôi trong căn phòng nhỏ của gia đình, ở sâu trong một ngôi nhà có nhiều hộ trên phố Hàng Chuối, Hà Nội. Căn phòng giản dị, có cả một chiếc gác xép lửng giữa phòng, như thường thấy trong nhiều căn hộ tập thể ở Hà Nội. Bộ salon tiếp khách đã cũ, cùng kiểu dáng, kích cỡ với các bộ salon nhiều gia đình ở Hà Nội sử dụng cách đây hơn 10 năm.

Đã ở tuổi gần 90 nhưng sức khỏe của ông còn tốt, nhất là ông còn rất minh mẫn, nhớ từng chi tiết trong từng câu chuyện kể về những năm tháng được phục vụ Bác Hồ, Bác Tôn. Có nhiều chuyện ông kể tôi đã được đọc đâu đó trong sách báo, nhưng có những chuyện lần đầu tiên tôi được nghe, được biết.

Hai lần nhận nhiệm vụ đặc biệt

Sau mấy năm học ở Trường Trung học tư thục Thăng Long, Hà Nội, nơi có các thầy giáo nổi tiếng như Bùi Kỷ, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp… giảng dạy, do gia đình đông anh em, cậu học sinh Lê Hữu Lập đành phải bỏ dở việc học hành, lên Thái Nguyên giúp việc cho một người họ hàng làm ăn, buôn bán.

Năm 1941, lấy vợ, lại là con cả, theo lời cha, Lê Hữu Lập trở về quê ở Nam Trực, Nam Định làm ruộng và lo việc thờ cúng tổ tiên. Chính thời gian đó, anh thấy rõ cảnh khổ cực của bà con nông dân, tận mắt chứng kiến nạn đói thê thảm năm 1945 ở quê nhà, nên khi Cách mạng Tháng 8-1945 bùng nổ, anh hăng hái tham gia khởi nghĩa, cướp chính quyền ở quê, được kết nạp vào Đảng, làm Bí thư Chi bộ Tiểu khu Nam Trực.

Giữa năm 1947, anh rời gia đình đi kháng chiến. Hết làm cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên, cán bộ Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, Hiệu trưởng Trường Đảng Hoàng Văn Thụ ở Việt Bắc, anh lại đi phát động quần chúng đóng thuế nông nghiệp ở tỉnh Hoà Bình rồi được chọn đi học một ngành hoàn toàn mới, trước đây chưa bao giờ nghĩ tới: ngành Cơ yếu!

Đầu năm 1952, học xong, anh nhận nhiệm vụ đặc biệt: về làm công tác cơ yếu tại Văn phòng Trung ương Đảng. Anh là Bí thư Chi bộ đầu tiên của đơn vị này kể từ khi thành lập…

Năm 1958, khi Bác Hồ cần một cán bộ tin cẩn đã qua công tác cơ yếu để phụ trách Phòng Văn thư của Bác, lần thứ hai, ông Lê Hữu Lập nhận nhiệm vụ đặc biệt: làm Trưởng phòng Văn thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuốn Sổ tiết kiệm và tấm lòng của Bác Hồ đối với người thân và với người dân bị oan

Tháng 7/1958, ông Lê Hữu Lập chính thức được chuyển sang làm việc tại Văn phòng của Bác Hồ. Thời gian này Bác Hồ mới sang ở nhà sàn, xây dựng xong ngày 19/5/1958. Văn phòng của Bác lúc đó rất ít người, ngoài ông Vũ Kỳ là Thư ký riêng của Bác, đồng thời là Chánh Văn phòng, chỉ có ông Lê Hữu Lập là Trưởng phòng Văn thư, ông Cù Văn Chước là Phó phòng, ông Trần Văn Vượng đánh máy và một vài anh em nấu ăn, lái xe, cần vụ…

Công việc chính của ông Lập là tiếp nhận và trình Bác những công văn, thư từ, báo chí gửi Bác; trình ký những Sắc lệnh, Thư ủy nhiệm ngoại giao, các hồ sơ khen thưởng… Báo chí gửi đến, kể cả các báo địa phương, Bác thường đọc rất kỹ, đánh dấu hoặc ghi ý kiến vào những bài báo đáng chú ý, gửi tặng Huy hiệu của Người cho những người làm việc tốt mà báo chí nêu gương.

Sau này, khi tuổi Bác ngày một cao, để bảo vệ đôi mắt cho Người, từ năm 1962 ông Lập được giao cùng ông Chước tổng hợp tin tức, lựa chọn tin, bài trên các báo, mỗi ngày hai lần vào đầu giờ buổi sáng và buổi tối trước khi Bác nghỉ, đọc cho Bác nghe…

Ông là người được giao đứng tên “Lê Hữu Lập” trên cuốn Sổ tiết kiệm của Bác, gửi ở một quầy tiết kiệm trên phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hằng tháng còn lại sau khi trừ mọi chi tiêu, sinh hoạt và là tiền nhuận bút Bác viết bài cho Báo Nhân Dân.

Dịp Bác đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền, Bác dặn nhập số tiền đó vào quỹ của Đảng, không để vào Sổ tiết kiệm của Người. Bác thường dùng tiền tiết kiệm để mua quà tặng trong những dịp cần thiết. Có lần đi công tác về, thấy bộ đội phòng không trực chiến dưới nắng chói chang của mùa hè, Bác nói ông Lập rút tiền trong Sổ tiết kiệm trao cho Bộ Quốc phòng làm quà, mua nước giải khát cho anh em…

Khi được tin ông Nguyễn Sinh Mợi, người anh em thúc bá bị đau nặng, Bác Hồ tự tay viết thư gửi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An:

Thân gửi đồng chí Võ Thúc Đồng

Được tin cụ Mợi đau nặng, tôi không có điều kiện về thăm nom chăm sóc. Tôi nhờ đồng chí giúp đỡ chữa chạy. Tôi cảm ơn. Thân ái“.

Bác giao ông Lập cầm bức thư vào Vinh đưa tận tay đồng chí Võ Thúc Đồng. Khi biết cụ Mợi không qua khỏi, Bác cho gọi anh Nguyễn Sinh Định, con trai cụ Mợi, cán bộ Ủy ban Hành chính Hà Nội, cùng các con vào chỗ Bác. Bác dặn ông Lập rút ở Sổ tiết kiệm của Bác 200 đồng để giúp lo liệu công việc cho cụ Mợi.

Lần đầu tiên sau nhiều năm phục vụ Bác, ông Lập được chứng kiến các cháu gọi Bác bằng ông, bằng chú. Nhìn ông cháu âu yếm nhau, ông Lập thật sự xúc động. Ông biết nhiều khi vì công việc chung Bác phải nén tình cảm riêng. Bác muốn họ hàng và cả quê hương tự mình phấn đấu vươn lên, không dựa dẫm, đòi hỏi đặc quyền, đặc lợi…

Bác lo nhiều công việc lớn, nhưng không bỏ qua những việc nhỏ, nhất là những lời kêu oan của người dân. Đọc thư gửi lên Bác, ông Lập phải đọc thật kỹ, báo cáo với Bác từng trường hợp người dân viết thư gửi Bác để cầu cứu.

Có lần nhận được lá thư của ông K, một trí thức giỏi tiếng Pháp, làm ở một nhà xuất bản, kêu cứu Bác vì bị xử tù oan. Bác giao ông Lập báo cáo ông Vũ Kỳ rồi đi gặp các cơ quan có trách nhiệm yêu cầu xem xét việc này, báo cáo Bác. Kết quả sự việc sau khi các cơ quan có trách nhiệm điều tra, xem xét cho thấy ông K bị xử tù oan vì bị vu khống.

Sau 9 tháng bị tù oan, ông K được trả lại tự do. Ngày ra tù, vợ chồng ông tìm đến nhà ông Lập cảm ơn và chỉ có lời thỉnh cầu duy nhất là nhờ ông Lập thưa lại với Bác Hồ lòng biết ơn vô hạn của ông bà trước tấm lòng bao dung của Người!

Vị đắng của tách cà phê

Mười một năm trực tiếp phục vụ Bác Hồ và cũng chừng ấy năm làm Thư ký riêng của Bác Tôn, ông Lê Hữu Lập học tập ở hai vị Chủ tịch nước nhiều đức tính tốt đẹp, thấy cả hai Bác vĩ đại trong cả cuộc sống đời thường, vô cùng giản dị, luôn gần gũi mọi người, mọi việc lớn nhỏ đều vì nước, vì dân.

Ông là người từng được chứng kiến những giây phút Bác trầm ngâm khi nghe ông đọc cuốn truyện “Bất khuất” của Nguyễn Đức Thuận, thấy Bác vẫn thư thái, ung dung dạo bộ sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo về “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” năm 1964 do Mỹ tạo ra để lấy cớ ném bom miền Bắc, thấy Bác “cười chảy nước mắt” khi nghe ông đọc một mẩu chuyện vui trên báo…, nên biết Bác tuy là lãnh tụ tối cao, nhưng Bác cũng là một con người, cũng có những thú vui và thói quen bình thường như những người bình thường khác, chứ không phải là một ông thánh, xa lạ với đời sống con người!

Biết Bác hút thuốc lá nhiều là hại sức khỏe, nhưng các bác sĩ ở Hội đồng bảo vệ sức khỏe không ai nỡ khuyên Bác bỏ thuốc lá vì đó là thú vui riêng từ hàng chục năm nay của Bác, có lẽ là từ hồi Bác còn trẻ.

Thấy Bác ho nhiều, các bác sĩ chỉ khuyên Bác nên hút bớt thuốc lá. Nhưng tự Bác đã bỏ thuốc, một việc không dễ, nhất là đối với một người quen hút từ nhiều năm, lại thường ngồi làm việc một mình.

Bác còn có một thói quen là gần cuối giờ làm việc buổi sáng thường uống một tách cà phê nóng. Nhưng khi uống cà phê Bác lại nhớ thuốc lá nên sau này Bác bỏ cả cà phê. Sau mấy chục năm, ông Lập vẫn còn nhớ cảm giác của mình khi ngày đầu tiên Bác đưa tách cà phê của Bác cho ông uống sau khi Bác cai thuốc: uống tách cà phê của Bác mà cảm thấy vị cà phê như đắng hơn!

Mười một năm thường xuyên có mặt trong nhà sàn của Bác, ông Lập quen thuộc từng đồ vật trong phòng. Nhà sàn của Bác làm bằng gỗ mỏng, khuất trong khu vườn bách thảo nên bí, mùa hè thì nóng, mùa đông thì lạnh. Đầu giường Bác có một chiếc quạt lá cọ, không phải để phòng mất điện vì đã có máy nổ dự phòng. Bác không để quạt chạy liên tục. Bác bảo “máy cũng phải nghỉ mới bền lâu”. Còn ông Lập thì nghĩ, Bác dùng quạt lá cọ vì Bác không muốn sống xa cách cuộc sống của nhân dân khi đó còn rất khó khăn, thiếu thốn!

Trên bàn làm việc của Bác thường có một chiếc đĩa nhỏ để mấy bông hoa nhài, hoa ngọc lan. Nhiều lần trước khi bước lên nhà sàn làm việc với Bác, ông Lập thường ngắt một vài nụ nhài sắp nở bỏ vào trong túi áo ngực. Ngồi làm việc với Bác một lúc, người ấm lên, mấy nụ nhài trong túi áo dần nở, mùi thơm ngát, hòa cùng hương nhài trên bàn làm việc của Bác thoang thoảng, dễ chịu vô cùng.

Ông Lê Hữu Lập nghỉ hưu đã trên hai mươi năm nay. Niềm vui của ông bây giờ là thấy con cháu trưởng thành, luôn giữ được “nếp nhà” mà ông bà truyền lại. Người con cả của ông là Lê Quốc Trung, nguyên Tổng Giám đốc TTXVN, nay là Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam.

Ông tự hào nhất về phần thưởng mà rất ít người có, đó là tấm Bằng khen số 03, ngày 3/9/1972 của Chủ tịch nước tặng, vì ông “Đã tận tụy hoàn thành nhiệm vụ phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn sống”

cand.com.vn

Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và con đường chiến bại (kỳ III)

Tháng Tư 17, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ (trái).

Cho tới cuối đời, Nguyễn Văn Thiệu vẫn không nguôi nỗi oán hận quan thầy mặc dù đã phải bó thân về ở trên đất Mỹ. Cựu phụ tá đặc biệt Nguyễn Văn Ngân nhận xét rằng, Tổng thống Thiệu “đã mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời…”.

Kỳ II>

Tay sai dưới búa

Cần phải thấy rằng, mặc dù tốn rất nhiều công và của để hà hơi tiếp sức cho chế độ tay sai ở Sài Gòn nhưng Washington chưa bao giờ muốn xuất hiện ở đây một chính thể độc lập. Có lẽ ở đây, ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên trợ lý đặc biệt của Tổng thống Thiệu, cũng vốn là một tay sai cũ của Washington, đã chí lý khi nhận xét: “Người Mỹ đã thay thế người Pháp với chính sách thực dân mới. Vào thế kỷ XX người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt Nam trong việc thiết lập một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á của chủ thuyết Domino. Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi người Việt Nam mà vì quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xiển dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chính và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ. Chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đã được sử dụng như lưỡi gươm Damoclès… Cũng chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ như thế chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ý chí đề kháng và nô lệ hóa…”. Dễ hiểu là trong bối cảnh đó, chính quyền bản địa sống nhờ bằng viện trợ sẽ bị xem là công cụ của ngoại bang, không thể nào có chính nghĩa…

Dã tâm của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam là chỉ muốn xây dựng ở đây một thể chế nói sao nghe vậy theo đúng những toan tính chiến thuật và chiến lược của họ. Ai nghe lời họ thì họ ủng hộ, còn ai giở chứng thì họ cũng sẵn sàng loại bỏ ngay không thương tiếc.

Ngay từ giữa những năm 60 của thế kỷ trước, Washington đã nhanh chóng nhìn thấy trong Nguyễn Văn Thiệu một quân bài mới cho cuộc chơi tiếp theo của mình trong ván cờ Việt Nam. Người Mỹ đã hỗ trợ rất nhiều để Nguyễn Văn Thiệu và đảng Dân chủ do ông ta lập ra chiếm được thế thượng phong trên chính trường Sài Gòn. Chính nhờ thế nên trong cuộc bầu cử dân chủ giả hiệu ngày 4/9/1967, Nguyễn Văn Thiệu trong liên danh với Nguyễn Cao Kỳ dù chỉ giành được 34,8% số phiếu của các cử tri đi bầu nhưng vẫn trở thành tổng thống của cái gọi là nền đệ nhị cộng hòa. Để hợp thức hóa kết quả bầu cử trên, Quốc hội Sài Gòn đã họp lại bỏ phiếu với 58 phiếu thuận và 43 phiếu chống. Sau vụ này, Chủ tịch Quốc hội Phan Khắc Sửu đã từ chức để phản đối nhưng cũng không thể đảo ngược được tình thế.

Washington đã múa tay trong bị vì đưa được các con bài của mình vào những vị trí trọng yếu nhất trên vũ đài chính trị Sài Gòn và không tiếc công tiếc của đổ vào hà hơi tiếp sức cho chế độ tay sai ở Sài Gòn và cũng là để thêm phần ràng buộc những kẻ nhận tiền. Sài Gòn trong thời cầm quyền của Nguyễn Văn Thiệu đã thực sự trở thành thuộc địa mới của Washington, như chính lời thú nhận sau này của Nguyễn Văn Ngân, nguyên phụ tá đặc biệt của Tổng thống Thiệu.

Tòa đại sứ tại Sài Gòn thực ra là một Chính phủ Mỹ ở hải ngoại với một hệ thống cố vấn dày đặc trong tất cả mọi lĩnh vực sinh hoạt từ trung ương tới địa phương của chế độ Việt Nam cộng hòa. Số lượng nhân viên CIA ở miền Nam Việt Nam khi đó đông chỉ sau trụ sở Trung ương đóng tại Langley bên nước Mỹ. Chi nhánh CIA ở Sài Gòn cũng là chi nhánh hải ngoại có nhân viên đông nhất trên thế giới. Ở thời điểm cao nhất đã có tới hơn nửa triệu lính Mỹ đồn trú ở miền Nam Việt Nam và trực tiếp tham chiến…

Tiếng gọi là tổng thống của một quốc gia độc lập nhưng trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Văn Thiệu thực ra chỉ là một kẻ tay sai luôn nằm dưới búa của các quan thầy Mỹ… Có thể hiểu được tâm trạng của Nguyễn Văn Thiệu khi ông ta, cũng theo chứng nhận của Nguyễn Văn Ngân, lúc còn ngồi trong dinh Độc Lập, Tổng thống Thiệu đã phải dùng tới 90% lượng thời gian trong ngày để tranh thủ và đối phó với các quan thầy Mỹ, mặc dù phạm vi xoay xở của ông ta mỗi ngày bị một thu hẹp lại. Lý do của việc này là vì chính sách của Washington là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sinh mạng của cái gọi là nền đệ nhị cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Chính Tổng thống Thiệu cũng đã có lần phải cay đắng thú nhận: “Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!”. Mỉa mai thay!

Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Văn Thiệu đã không ngần ngại bộc lộ bản tính khó chơi đầy bất trắc của mình, một khi ông ta cảm thấy có sự thay đổi nào đó bất lợi trong thái độ và hành động của quan thầy đối với ông ta. Nhưng cũng chính vì thế, quan thầy Mỹ đã không chỉ một lần định xóa sổ Tổng thống Thiệu…

Khi nước Mỹ bước vào cuộc bầu cử tổng thống sắp tới, tháng 3/1968, để lấy điểm với cử tri, Tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson đã buộc phải tuyên bố ngừng bắn vô điều kiện miền Bắc Việt Nam và cam kết sẽ không tái tranh cử nữa để, như chính lời ông ta nói, “dồn sức cho những nỗ lực hòa bình”. Và để tìm kiếm cơ hội thắng cử cho Phó tổng thống Hubert Humphrey của ông ta có thể vượt lên trước các đối thủ từ đảng Cộng hòa. Hà Nội lúc đó cũng đồng ý đàm phán với đối phương. Tuy nhiên, người đã chơi xấu ông Johnson lại chính là nhân vật mà ông ta đã góp phần dựng lên trong dinh Độc Lập.

Bản tính thích những trò chơi hai mang, Nguyễn Văn Thiệu một mặt tỏ ra thuần phục Johnson nhưng mặt khác đã có nhiều lần tiếp xúc với ứng cử viên Tổng thống Mỹ Nixon thông qua nữ thành viên trong nhóm vận động tranh cử Tổng Thống Nixon là bà Anna Chennault. Và khi cảm thấy có thể dùng mới để nới cũ, Tổng thống Thiệu đã tuyên bố ngay trước khi bầu cử ở Mỹ bắt đầu là chính quyền Sài Gòn sẽ không tham gia đàm phán ở Paris như đã định trước đó. Việc làm này đã được đánh giá như những điểm cộng rất đáng kể cho ưu thế của ứng cử viên Tổng thống Nixon và dồn ông Johnson vào thế bí và trong bộ sậu của ông này đã nảy sinh ra ý định hạ bệ Tổng thống Thiệu cho rảnh nợ. Người bộc lộ rõ nhất ý định này là Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford…

Theo sách “Khi đồng minh tháo chạy” (xuất bản năm 2005) của Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch của chế độ Sài Gòn cũ, hiện giảng dạy tại một trường đại học ở Mỹ, người tự xưng là có những những quan hệ đặc biệt với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chính Tổng thống Thiệu đã kể lại rằng, ở thời điểm đó, trên đường từ dinh Độc Lập tới trụ sở quốc hội, ông ta đã hết sức lo sợ bị CIA ám sát nếu như Washington biết trước được về việc ông ta bác bỏ kế hoạch đàm phán hòa bình của Mỹ và phá hoại cơ hội thắng cử của Phó tổng thống Mỹ Humphrey. Ông ta thú nhận: “Và nếu họ muốn ám sát tôi thì cũng dễ thôi. Rồi sau đó cứ việc đổ cho Việt Cộng hoặc là do âm mưu đảo chính…

Vì nhiều lý do, Tổng thống Thiệu đã sống sót được qua năm 1968. Người kế nhiệm ông Johnson trong Nhà Trắng là vị Tổng thống Mỹ thứ 37 Richard Nixon về sau đã được biết về âm mưu ám sát Tổng thống Thiệu qua lời cảnh báo của cố vấn Henry Kissinger. Ông Kissinger nói: “Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận với ông Diệm thì tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm kẻ thù của Mỹ có thể là nguy hiểm, chứ làm bạn với Mỹ chắc chắn là chết…”.

Tuy nhiên, khi Nixon đã làm chủ Nhà Trắng rồi thì cũng chính Nguyễn Văn Thiệu vẫn gây nên những nỗi đau đầu bất tận cho các quan thầy Mỹ. Để có thể tái đắc cử thêm một nhiệm kỳ nữa, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã gia tăng những nỗ lực để “Việt Nam hóa chiến tranh” và loại dần sự có mặt về quân sự của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Một mặt, Washington gia tăng viện trợ quân sự cho quân đội Sài Gòn. Mặt khác, sau những thất bại của các đợt ném bom tàn bạo xuống miền Bắc Việt Nam, chính quyền Mỹ đã buộc phải tìm cách thương thảo với Hà Nội tại bàn Hội nghị ở Paris. Lo sợ vì bị quan thầy đem con bỏ chợ, Nguyễn Văn Thiệu lại thêm một lần trở nên cứng đầu cứng cổ, tìm mọi cách chống phá quá trình thương thảo ở Paris. Đến mức ngay cả Henry Kissinger, Trưởng phái đoàn đàm phán của Mỹ ở Paris, trong hồi ký của mình cũng đã phải nhận xét rằng, trong suốt 5 năm từ 1968, Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách là tổng thống của chế độ Việt Nam cộng hòa, đã phá hoại tất cả những nỗ lực của quan thầy như muốn “bóp nát trái tim nước Mỹ”.

Năm 1972, khi mọi việc đã gần như suôn sẻ ở Paris, Nguyễn Văn Thiệu đã nhất định không chấp nhận ký Hiệp định. Cực chẳng đã, Tổng thống Mỹ Nixon đã phải nhắn khéo về một nguy cơ đảo chính có thể xảy ra ở Sài Gòn. Trong bức thư đề ngày 6/10/1972, Nixon viết: “Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968…”.

Đó không phải một lời đe dọa suông. Cũng theo cuốn sách “Khi đồng minh tháo chạy” của Nguyễn Tiến Hưng, ngày 21/10/1972, hai chuyên viên trong Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ là Roger Morris và Anthony Lake đã viết cho cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger một phúc trình mà trong đó có nói tới các phương án lật đổ Nguyễn Văn Thiệu. Sau này, Morris xác nhận: “Tôi bảo Tony rằng hai đứa mình phải cho Henry hiểu rõ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu”…

Bản tính lì lợm, lại phải đối mặt với vấn đề sinh tử là mất hay còn tương lai, Nguyễn Văn Thiệu bất chấp những đe dọa từ phía Mỹ vẫn ngoan cố chống phá việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam. Già néo dễ đứt dây, Tổng thống Mỹ Nixon, chuẩn bị cho lễ nhậm chức lần thứ hai trong Nhà Trắng, tỏ ra rất bức xúc vì thái độ hỗn hào của kẻ “muốn ăn không muốn làm” theo ý người trả tiền trong dinh Độc Lập, đã viết thẳng toẹt ra cho Nguyễn Văn Thiệu về nguy cơ đảo chính: “Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp định vào ngày 23/1, và sẽ ký vào ngày 27/1/1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc này dù phải làm một mình… Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của ông cũng không thể cứu vãn được…”.

Không ngẫu nhiên mà ông Nixon đã sử dụng cụm từ “thay đổi về nhân sự”. Năm 1963, khi việc chuẩn bị lật đổ tổng thống của cái gọi nền đệ nhất cộng hòa Ngô Đình Diệm đang tiến hành ráo riết, Tổng thống Mỹ lúc đó là John Kennedy trong một buổi trả lời phỏng vấn cho nhà báo Walter Cronkite trên đài CBS, đã nhắc tới nhu cầu “thay đổi nhân sự.” Đó chính là thông điệp “bật đèn xanh” từ cấp cao nhất để cho CIA cùng nhóm tướng lĩnh vong ân bội nghĩa ở Sài Gòn tiến hành đảo chính sát hại cả hai anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu.

Là kẻ từng trực tiếp tham gia cuộc đảo chính ngày 1/1/1963, Nguyễn Văn Thiệu không thể không hiểu lời đe dọa thẳng thừng và trắng trợn từ phía quan thầy Mỹ. (Người ta kể rằng, hàng năm cứ vào ngày 1/11, bị cắn dứt vì tội lỗi cũ, Tổng thống Thiệu lại tổ chức xin thánh lễ cầu hồn cho Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại dinh Độc Lập)… Bí bách,Tổng thống Thiệu vào những tháng cuối trước khi ký Hiệp định Paris, có lúc đã định (hoặc làm như vẻ có ý định) tự sát như một phương cách cuối cùng cưỡng lại lệnh của quan thầy Mỹ.

Cựu phụ tá Nguyễn Văn Ngân kể: “Tài liệu của Đại sứ Bunker đã ghi nhận ý định tự sát này của ông Thiệu qua một báo cáo của ông Trần Thiện Khiêm (lúc đó là thủ tướng chính thể Việt Nam cộng hòa – PHC) ghi âm cuộc đối thoại giữa ông Thiệu, ông Khiêm. Chính ý định tự sát này đã khiến ông Thiệu lì lợm trước những đe dọa của Nixon và đã đưa đến những nhượng bộ của Nixon bằng những cam kết mật…”. (Cũng phải nói thêm rằng, cái gọi là những cam kết mật đó của Nixon chỉ là một biện pháp vật lý trị liệu cho tinh thần bấn loạn của tay sai lo bị bỏ rơi chứ thực ra không hề có giá trị pháp lý thực tế gì! Nói như Kissinger, đó chỉ là những ý định của Tổng thống Nixon, chứ không có tính cách cam kết quốc gia vì không có phê chuẩn của Quốc hội)…

Và đành “thân lươn chẳng quản lấm đầu”, dù rất cay đắng nhưng rốt cuộc Nguyễn Văn Thiệu vẫn bắt buộc phải xuống nước và thế là Hiệp định Paris về Việt Nam đã được ký kết coi như là suôn sẻ vào đúng thời hạn mà Nixon đã nói.

Mặc dầu vậy, nỗi lo phải chịu chung số phận như Ngô Đình Diệm vẫn không rời bỏ Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta có những giai đoạn đã thay đổi chỗ ngủ hằng đêm, không nơi nào giống nơi nào… Nỗi lo này đặc biệt trở nên nhức nhối khi tới gần thời điểm mà chế độ Việt Nam Cộng hòa kỷ niệm ngày quân lực thường niên 20/6/1974.

Sau này, Nguyễn Văn Thiệu đã thổ lộ với tác giả Nguyễn Tiến Hưng rằng, sau Hiệp định Paris là tới lúc phải thành lập “Hội đồng hòa hợp hòa giải dân tộc”, một hình thức Chính phủ liên hiệp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong suốt thời gian trước đó, giữa hai bên hầu như không đạt được bước tiến nào về việc này và bản thân cuộc đàm phán ở La Celle St. Cloud gần Paris cũng bị ngừng từ ngày 16/4/1974. Quan thầy Mỹ vì quyền lợi của mình đã rất không hài lòng với thái độ phá quấy của chính quyền Sài Gòn nên cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Kissinger đã không ngừng gây sức ép đối với Nguyễn Văn Thiệu. Bản thân Tổng thống Thiệu cũng hiểu rằng vai trò hữu dụng của mình đối với quan thầy Mỹ đã gần cạn kiệt, nếu không muốn nói rằng chính ông ta đã trở thành vật cản cho những nỗ lực của Washington nhằm thực hiện bằng được kế hoạch “hòa bình trong danh dự”. Bởi vậy, lúc nào Nguyễn Văn Thiệu cũng lo bị quan thầy của mình sai đệ tử ám sát. Đến mức, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Nguyễn Văn Thiệu đã cho thiết kế một trung tâm chỉ huy dưới lầu hầm dinh Độc Lập, được trang bị đầy đủ với máy phát điện, đường điện thoại riêng biệt, đài phát thanh, máy liên lạc với các viên tướng, một cái giường nhỏ và một cái gối mây. Tổng thống Thiệu dự định đấy sẽ là nơi ông ta chui vào khi có biến…

Một tay sai như thế hiển nhiên không thể được quan thầy ưa chuộng. Henry Kissinger về sau trong hồi ký của mình đã dành những lời rất nặng nề để nói về Nguyễn Văn Thiệu, Mặc dù không phủ nhận rằng Tổng thống Thiệu có một người khôn ngoan hoạt bát nhưng lại cho rằng, Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu “tàn bạo”, “xấc láo”, “ích kỷ, độc ác” với những “thủ đoạn gần như điên cuồng” khi làm việc với người Mỹ… Kissinger cũng tiết lộ rằng, trong những câu chuyện riêng, khi nói về Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Mỹ Nixon đã giận dữ thốt lên: “Đó là một thằng chó đẻ”(!).

Không thể ngây thơ

Tổng thống Thiệu đã luôn phải sống trong nỗi lo bị ám sát nơm nớp hàng ngày. Ông Nguyễn Văn Ngân kể: “Sau này ở hải ngoại có một lần tôi hỏi ý kiến của ông Thiệu về cái chết của Tổng Thống Hàn Quốc Park Chung-hee, ông trả lời: “Bọn Mỹ chứ còn ai vào đó, có bao giờ giám đốc tình báo quốc gia là người tin cẩn do tổng thống bổ nhiệm lại bắn tổng thống!”.

Thân phận tay sai, lại phải luôn cảnh giác với những âm mưu đen tối của quan thầy, Nguyễn Văn Thiệu đã bị mắc chứng bệnh đa nghi kinh niên. Cũng theo lời kể của cựu phụ tá đặc biệt Nguyễn Văn Ngân, Tổng thống Thiệu đã luôn phải cảnh giác chính trị với các quan thầy: “Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1971, điều 10 khoản 7 được áp dụng nhằm giới hạn các liên danh tranh cử.

Liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Trần Văn Hương chiếm hơn 4/5 tổng số nghị viên và hơn 2/3 tổng số dân biểu, nghị sĩ; số nghị sĩ dân biểu còn lại chỉ vừa đủ cho liên danh Dương Văn Minh. Khi tôi hoàn tất hồ sơ tranh cử (gồm khoảng 600 văn kiện), ông Thiệu nói với tôi: “Anh đem hồ sơ bỏ vào tủ sắt của tôi kẻo bọn nó (Mỹ) đánh cắp thì quơ tay”. Tủ sắt này là loại coffre-fort được xây kín trong bức tường của văn phòng ông Thiệu. Ngày nộp đơn tranh cử, tôi cho mở tủ sắt giao hồ sơ cho giáo sư Lê Tài Triển (đại diện liên danh) có an ninh hộ tống mặc dầu quãng đường từ dinh Độc Lập đến Tối cao pháp viện dinh Gia Long chỉ khoảng 300 thước. Những sự đề phòng nầy không phải không có sở cứ…”

Cũng phải nói rằng, sự đa nghi của Nguyễn Văn Thiệu không phải là vô duyên cớ. Thực sự là ông ta đã phải làm việc trong một khung cảnh đầy rẫy những cạm bẫy mà quan thầy Mỹ đã giăng mắc. Ngay cả những trợ thủ cao cấp nhất của ông ta cũng có thể là đầy tớ của Washington. Lấy đơn cử trường hợp của kẻ đã từng giữ ghế thủ tướng trợ giúp cho ông ta, Tướng Trần Thiện Khiêm.

Nguyên phụ tá đặc biệt Nguyễn Văn Ngân kể: “Một nhân vật then chốt và thường trực của hội đồng an ninh quốc gia là ông Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng mà cả nước đều biết là một công cụ trung thành của Mỹ, là nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chính 1/11/1963. Trước đây, các ông Diệm, Nhu cũng biết ông Khiêm là người của CIA nhưng đã lầm lẫn về con người của ông Khiêm nên đã giao chức vụ Tham mưu trưởng liên quân với mục đích “neutralizer” các âm mưu đảo chính của người Mỹ, cuối cùng cả hai anh em đều bị thảm sát dưới tay ông Khiêm. Các ông Diệm, Nhu là những người được giáo dục và lớn lên trong môi trường có tính cách khuôn mẫu, kinh điển, vẫn tưởng rằng những ân sủng của chế độ, những tình cảm xử sự như con cháu trong gia đình, cùng sự biến cải từ một sĩ quan cấp thấp trong quân đội đánh thuê của Pháp thành một tướng lĩnh đứng đầu trong quân đội quốc gia có lý tưởng, có nhân cách, nhân phẩm… sẽ hết lòng bảo vệ chế độ…”

Sự thật lại khác. Một khi đã mang trong mình trái tim chó sói của kẻ bất lương, thì suốt đời sẽ vẫn bất lương “ăn cháo đái bát”. Trần Thiện Khiêm là một kẻ như thế…

Ngày tàn tức tưởi

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta mùa xuân năm 1975 đã dồn chế độ Việt Nam cộng hòa vào con đường cùng. Tới lúc đó thì người Mỹ không thể không nhìn thấy sự phá sản của con bài Nguyễn Văn Thiệu trong ván cờ thế sự ở đây. Washington đã cố gắng tạo mọi sức ép để buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức và đưa một nhân vật nào đó khả dĩ hơn lên sân khấu nhằm vớt vát được chừng nào hay chừng ấy những điều kiện thuận lợi nào đó. Ngày 21/4/1975, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Martin đã báo cáo cho ông Kissinger, lúc này là ngoại trưởng Mỹ: “Tôi sẽ nói cho ông Thiệu rõ tôi đã đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta không chịu từ chức thì các tướng lĩnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông ta làm điều này…”.

Và thế là, cùng ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã phải từ chức trong một tâm trạng thật là tức tưởi và đầy oán hận đối với các quan thầy Mỹ.

Người lên thay Nguyễn Văn Thiệu là một gương mặt rất cựu trào ở Sài Gòn thuở đó, ông Trần Văn Hương. Ông Hương cũng chẳng hẹp lòng gì mà đuổi Nguyễn Văn Thiệu ra khỏi dinh Độc Lập ngay nhưng dưới sức ép của dư luận xã hội, đã phải tìm cách để cựu Tổng thống Thiệu tháo lui ra hải ngoại. Nhân dịp có tang lễ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, ông Hương lại sử dụng bài bản cũ và đề cử Nguyễn Văn Thiệu cũng như Trần Thiện Khiêm làm đại sứ lưu động sang Đài Loan dưới danh nghĩa phái đoàn đại diện phúng điếu Tưởng Giới Thạch… Và thế là đêm 25/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu đã vĩnh viễn phải rời khỏi Việt Nam.

Câu chuyện khởi hành ly hương của kẻ đã từng một thời làm mưa làm gió ở Sài Gòn đã được các thuộc hạ về sau tường thuật như sau: “Vào khoảng 7h30’ tối, Tổng thống Thiệu thay bộ đồ bốn túi trong phòng ngủ rồi qua phòng nhỏ bên cạnh nghiêng đầu qua cửa sổ nhìn xuống. Dưới sân, bên cạnh thềm tam cấp một xe Mercedes màu xanh đậm đã đậu sẵn. Người lái xe là Đại tá Nhan Văn Thiệt. Thấy mọi việc đã sẵn sàng, Tổng thống Thiệu vội vã rút trong hộc tủ cây Browning đã lắp đạn, ông khóa chốt an toàn rồi cho vào túi áo. Ông xuống tầng trệt bằng thang máy. Khi cánh cửa mở ra thì Đại tá Trần Thanh Điền đã túc trực tại đó. Ông vừa bước xuống bậc tam cấp thì lại cũng vào lúc có hai binh sĩ (tên là Sanh và Khình) xuất hiện làm ông giật mình.

Thực ra là họ chỉ đến để đổi gác. Ông Thiệu và ông Điền lanh lẹ bước vào xe. Đại tá Điền ngồi bên phải Tổng thống Thiệu ở băng sau. Như vậy là ông Điền đã ngồi vào chỗ chính thức của tổng thống và chịu làm Lê Lai cứu Chúa! Vừa ngồi vào xe, ông Thiệu hỏi: “Có mấy cây súng?”. Đại tá Điền đáp: “Có hai cây, một cây dài, một cây ngắn”.

Theo như vậy thì vào lúc đó Tổng thống Thiệu đã nhận thấy ông bị nguy hiểm trên đường tới Bộ tổng tham mưu (ta nhớ lại là Tổng thống Diệm đã bị sát hại trên đường tới Bộ tổng tham mưu). Việc ông Điền ngồi vào chỗ chính thức của tổng thống thì cũng trùng hợp với câu chuyện ông Thiệu kể cho chúng tôi là khi đi xe tới dự nghi lễ bên Quốc hội hay nơi khác, ông thường ngồi ngay bên cạnh tài xế lái xe chứ không ngồi chỗ dành cho tổng thống ở băng sau.

Khi đoàn xe tới phi trường Tân Sơn Nhất, Thiếu tá Phận kể lại là đã “giật mình khi nhận ra cả khu vực phi trường tối om. Dường như hệ thống điện hoàn toàn bị cắt… Đoàn xe chạy vòng qua khu dành riêng cho hãng Air America của cơ quan tình báo Mỹ. Khi sắp tới đường băng, tất cả xe đều tắt đèn di chuyển trong bóng đêm. Sau đó một chiếc máy bay lù lù hiện ra dưới chân trời nhờ đèn trong buồng máy cháy sáng, một loại máy bay giống như DC6. Khi tới gần chiếc máy bay, đoàn xe bất thần thắng gấp vì thấy có bóng người… Xe Tổng thống Thiệu bị bao vây bởi ba chiếc xe Chevrolet to lớn. Xa xa trong bóng đêm, xung quanh chúng tôi xuất hiện nhiều người Mỹ vạm vỡ, vận thường phục, súng M16 dựng đứng bên hông, trong thế tác chiến. Rồi hình ảnh ông Đại sứ Graham Martin hiện ra tại chân cầu thang máy như một vị thần hộ mạng”.

Chuyện này làm cho chúng tôi mới hiểu được tại sao khi nói về chuyến ra đi của Tổng thống Thiệu, Đại sứ Martin cứ nói úp úp mở mở là “Ông Thiệu đã ra đi trong điều kiện hết sức khó khăn,” và “chúng tôi đã để ý và cố gắng sắp xếp mọi chi tiết.”

Thì ra, mọi chi tiết được sắp xếp gồm cả việc cắt điện để phi trường tối om và việc đoàn xe phải di chuyển trong bóng đêm. Khi máy bay đáp xuống thì đã có sẵn một toán lính Mỹ canh gác để đề phòng những biến động có thể xảy ra vào phút chót…”.

Cho tới cuối đời, Nguyễn Văn Thiệu vẫn không nguôi nỗi oán hận quan thầy mặc dù đã phải bó thân về ở trên đất Mỹ. Cựu phụ tá đặc biệt Nguyễn Văn Ngân nhận xét rằng, Tổng thống Thiệu “đã mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời…”. Đến mức, lúc chết vào ngày 29/9/2001, Nguyễn Văn Thiệu đã bày tỏ ý nguyện rằng, nếu có thể ông ta muốn xác của mình được hỏa táng để đem tro cốt về Việt Nam, bằng không thì sẽ rải xuống biển chứ không muốn chôn trong lòng đất Mỹ…

Phong Hoàn Công

An ninh Thế giới

Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và hành trình chiến bại (kỳ II)

Tháng Tư 17, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Cuộc đảo chính sát hại anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu ngày 1/11/1963 rốt cuộc lại đẩy chính trường Sài Gòn vào một vòng xoáy “quần ngư tranh thực” mới giữa các viên tướng nhiều tham vọng nhưng lại thiển cận và đầy lòng phản trắc như một câu ngạn ngữ mới thịnh hành ở Sài Gòn hồi đó là “bạn nhà binh, tình nhà thổ”, cùng các chính trị gia xôi thịt tài hèn sức mọn nhưng luôn luôn khao khát đục nước béo cò.

Kỳ I

Lên để mà xuống

Chính vì thế nên trong hơn ba năm đã liên tục xảy ra những cuộc thanh trừng, chỉnh lý lẫn nhau giữa những kẻ đã chung tay xóa bỏ chế độ gia đình trị của họ Ngô. Rốt cuộc là một chính phủ dân sự đã được lập ra để xóa đi cái tiếng xấu là đám tướng lĩnh của cái gọi là quân đội Sài Gòn lật đổ Ngô Đình Diệm không phải vì muốn xóa bỏ chế độ độc tài mà chỉ vì tư lợi. Tuy nhiên, chính phủ của Thủ tướng Trần Văn Hương cũng đã không làm được gì đáng kể để vãn hồi trật tự ở Sài Gòn.

Nguyễn Văn Thiệu là một trong những kẻ đã gặt hái được nhiều lợi lộc nhờ tham gia cuộc đảo chính ngày 1/11/1963. Từ ghế đại tá, ngay trong ngày 2/11/1963, ông ta đã được nhảy lên cấp thiếu tướng và là người đầu tiên trong đội ngũ quân nhân đảo chính được hưởng sủng lộc này với sự hỗ trợ đặc biệt của tướng Trần Thiện Khiêm, một trong những nhân vật trụ cột trong nhóm lãnh đạo đảo chính (theo nhiều nguồn tin, Trần Thiện Khiêm khi đó đã là một tay sai vô điều kiện của CIA).

Cũng với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Trần Thiện Khiêm mà tới tháng 2/1964, khi nhóm tướng lĩnh chóp bu của quân đội Sài Gòn tiến hành “chỉnh lý”, Nguyễn Văn Thiệu đã được đưa vào chức Tham mưu trưởng liên quân. Rồi ông ta được đưa đi làm Tư lệnh Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật từ tháng 9/1964 đến tháng 1/1965… Trên cương vị đó, Nguyễn Văn Thiệu đã lặng lẽ “ngọa sơn quan hổ đấu” để đợi thời cơ. Có thể nói là chính ở thời điểm đó, Nguyễn Văn Thiệu đã bộc lộ được sự khôn ngoan không tầm thường của mình để mặc dù tham gia cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 chỉ ở vai trò chiến thuật nhưng rốt cuộc, trong một thời gian ngắn, đã leo lên được vị trí hàng đầu trong bộ máy quyền lực ở Sài Gòn nhờ biết nhẫn nại náu mình đợi thời cơ.

Và thời cơ đó đã tới vào ngày 18/1/1965, như một dư chấn sau âm mưu khủng bố bất thành của một nhóm tướng lĩnh và chính phủ của Thủ tướng Trần Văn Hương do yếu thế đã buộc phải cải tổ lại để chia thêm bốn ghế cho những nhân vật quân sự là những người đã bày tỏ sự ủng hộ tướng Nguyễn Khánh khá rõ rệt. Đó là Nguyễn Văn Thiệu (giữ chức Đệ nhị Phó thủ tướng), Trần Văn Minh, tức Minh nhỏ (Tổng trưởng quân lực), Linh Quang Viên (Tổng trưởng Tâm lý chiến) và Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên thể thao). Đó cũng là lần đầu tiên Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện ở Sài Gòn với tư cách một chính trị gia, chứ không chỉ như một viên tướng trận thuần túy.

Cuộc chỉnh lý “nửa chừng xuân” này vẫn không làm yên cái chính trường vốn đang chất chứa quá nhiều mâu thuẫn và âm mưu. Dưới tác động của nhiều xung lực vật chất và ý đồ khác nhau, tại đây đã liên tục diễn ra biểu tình, thậm chí gần như bạo động chống lại chính phủ. Nhóm tướng lĩnh chóp bu của quân đội Sài Gòn tranh thủ thời cơ và ngày 27/1/1965, cái gọi là Hội đồng quân lực Sài Gòn đã ra tuyên cáo nêu rõ, mặc dù “quân đội đã trả quyền từ ngày 27/10 cho phía dân sự nhưng tình thế mỗi ngày mỗi rối ren”. Và ngày 28/1, chính cái Hội đồng quân lực đó đã gây sức ép và quyết định đẩy ông Trần Văn Hương ra khỏi chức Thủ tướng và để ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh làm Quyền Thủ tướng. Rồi ngày 16/2/1965, tướng Nguyễn Khánh, lúc đó đang giữ ghế Tổng tư lệnh cái gọi là quân đội VNCH, đã ký quyết định tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng thành lập chính phủ mới. Nguyễn Văn Thiệu đã được đeo lon Trung tướng từ ngày 18/1/1965, với tư cách một chính khách của cộng đồng tín đồ Thiên Chúa giáo tiếp tục được tham gia nội các…

Cách hành xử của tướng Nguyễn Khánh cũng vẫn không làm yên được không khí nóng bỏng của Sài Gòn. Tình hình ngày một rối như canh hẹ, khiến tướng Khánh đã bị chính các đồng đội nhà binh của mình nghi hoặc rằng, ông ta làm tung tóe mọi chuyện lên chỉ để tìm kiếm thêm cơ hội quay lại nắm quyền lực tối cao. Thế là ngày 20/2/1965, cái gọi là Hội đồng quân lực lại họp và quyết định thay thế tướng Nguyễn Khánh bằng tướng Trần Văn Minh làm Tổng tư lệnh quân đội Sài Gòn. Lúc này, nhóm tướng lĩnh trẻ hơn như Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Cao Kỳ… cảm thấy mình cũng đã bắt đầu đủ lông đủ cánh nên bày tỏ thái độ chống lại tướng Khánh mạnh mẽ và công khai hơn. Rốt cuộc là ngày 22/2/1965, tướng Khánh được bổ nhiệm chức Đại sứ lưu động và sau đó, đã phải rời khỏi Sài Gòn tha hương trong cái chức danh rất vô thực trên.

Trong bối cảnh này, Nguyễn Văn Thiệu đã trở thành con bài đắc dụng. Trong giai đoạn này, Nguyễn Văn Thiệu đã thể hiện rõ bản tính khôn ngoan và tráo trở của mình. Ông ta đã biết khéo léo dụ Thủ tướng Quát giao quyền hành lại cho quân đội để ông, với tư cách là người có quân hàm cao nhất trong số những người tham chính, có thể trở nên lãnh tụ tuyệt đối ở Sài Gòn. Khi tướng Mỹ Westmoreland tới gặp ông, khi ông ta đang là Tổng trưởng Quốc phòng, ông ta đã làm ra vẻ vô tư và nói: “Các vấn đề chính trị phải để cho các chính trị gia giải quyết. Tôi chỉ là quân nhân thuần túy”.

Ngày 3/3/1965, cái gọi là Hội đồng quân lực đã công bố thành lập Ủy ban thường vụ mà trong đó, chức tổng thư ký đã được dành cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu… Các chức vụ khác là: Ủy viên ngoại giao, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; Ủy viên chính trị, Thiếu tướng Linh Quang Viên; Ủy viên an ninh, Thiếu tướng Phạm Văn Đổng; Phụ tá Tổng thư ký, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao…

Năm ngày sau đó (8/3/1965), 1.500 lính thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đã tới Đà Nẵng, nâng tổng số quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam lên 23 nghìn người (dưới chế độ Diệm, tổng số quân Mỹ tại đó là 17 nghìn).

Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng cũng làm ra vẻ quan tâm tới thuộc cấp

Ngày 23/3/1965, cái gọi là Hội đồng quốc gia lập pháp ở Sài Gòn ra tuyên ngôn tán thành việc Mỹ gửi thủy quân lục chiến sang tham chiến tại Việt Nam. Trong cơn bĩ cực, những kẻ chỉ coi danh lợi là trên hết đành phải bám lấy những cái cọng rơm được quan thầy chìa ra dẫu hiểu rất rõ rằng, làm thế càng lộ mặt tay sai ngoại bang và càng bị chìm sâu vào kiếp phụ thuộc ngoại bang.

Tới ngày 5/5/1965, biết là không thể bám mãi vị trí cầm chịch nên cái gọi là Hội đồng quân lực ấy đã tuyên bố tự giải tán để các viên tướng trở về với các đơn vị của họ. Ngày 25/5, Thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ nhưng những đấu đá nội bộ vẫn không chấm dứt. Đến mức, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu cũng phải thú nhận công khai rằng ông ta không thể ký bổ nhiệm các nhân vật mới như những ông Nguyễn Văn Thoàn và Nguyễn Trung Vinh vì lẽ những người giữ các vị trí đó từ trước dứt khoát không chịu từ chức…

Không những thế, ngày 26/5, giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát lại bộc lộ công khai những bất đồng quan điểm về quyền hạn thay thế bộ trưởng. Việc cải tổ nội các Sài Gòn lâm vào khủng hoảng, mặc dù Washington có vẻ như vẫn tín nhiệm chính phủ Phan Huy Quát. Cực chẳng đã, Phan Huy Quát đã phải yêu cầu quân đội đứng ra lãnh vai trò trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính quyền dân cử…

Các viên tướng trẻ đầy tham vọng như buồn ngủ gặp chiếu manh đã ngay lập tức tung hết các chiêu thức học được sau mấy chục năm phục vụ trong đội ngũ lính tẩy làm tay sai ngoại bang ra để thâu tóm quyền lực. Và ở thời điểm này, sự tinh quái tháu cáy của Nguyễn Văn Thiệu đã trở nên đắc dụng.

Ngày 11/6, trong cuộc họp của các viên tướng tại Sài Gòn để xét thư yêu cầu quân đội ra tay trợ giúp, Trung tướng Thiệu, người lúc đó đang giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong nội các của Thủ tướng Quát, đã tìm ra được một cách diễn giải khôn ngoan rằng, cuộc khủng hoảng đang diễn ra không do lỗi chính phủ mà do sự lỗi thời của các văn bản đã được thông qua sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Và ngay lập tức, cũng trong ngày 11/6, quốc trưởng, thủ tướng và hội đồng quốc gia lập pháp Sài Gòn đã cùng ra các tuyên cáo xác định rằng những cơ cấu và thể chế quốc gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế nữa nên giao trả cho quân đội trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia. Hội đồng quân lực đã ngay lập tức chấp nhận đơn từ chức của Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát.

Tới ngày 14/6/1965, cũng cái Hội đồng quân lực đó đã đứng ra thành lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia với vị trí số một dành cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu như một lẽ dĩ nhiên, mặc dầu ở thời điểm đó, Nguyễn Văn Thiệu không hẳn đã là một con bài rõ nét trên bàn cờ Sài Gòn. Ngay cả chi nhánh CIA ở đây cũng chưa hiểu gì nhiều lắm về Nguyễn Văn Thiệu và chỉ mới hình dung ông ta như một viên tướng kín tiếng, đa nghi “trên cả mức hoang tưởng”…

Tiếp theo, ngày 19/6/1965, Nguyễn Văn Thiệu trở thành kẻ đứng đầu chế độ Sài Gòn qua chức Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia. Hơn hai năm sau, qua nhiều cuộc đấu đá quyết liệt và hiểm độc, thậm chí phải qua cả trò tranh cử giả hiệu dưới sự lũng đoạn của những đồng USD do Mỹ đổ vào, ngày 31/10/1967, Nguyễn Văn Thiệu đã leo lên được cái ghế tổng thống của cái gọi là nền đệ nhị cộng hòa.

Bắt đầu một giai đoạn mới mà rất cũ trong đời sống chính trị Sài Gòn. Chưa ngồi ấm chỗ, Nguyễn Văn Thiệu, như Đỗ Mậu nhận xét, với nhiều toan tính và thủ đoạn, đã tìm đủ mọi cách để loại bỏ các đối thủ tiềm năng, kể cả Nguyễn Cao Kỳ, người về hình thức đang là đồng minh thân cận hàng đầu của mình. Và cũng như chính Đỗ Mậu nhận xét, Nguyễn Văn Thiệu đã tái lập ở Sài Gòn một chế độ Diệm không có Diệm… Đấy cũng là một chế độ mà các tệ nạn, như nhận xét của những người đương thời, “hối mại quyền thế, tham nhũng, thối nát, trấn lột tiền bạc, bao che và thông đồng trong các dịch vụ buôn lậu ma tuý, vàng, đầu cơ phân bón, đầu cơ gạo… hoành hành tột độ…”.

Cũng chính từ khi Nguyễn Văn Thiệu lên ngồi ở vị trí chèo lái con thuyền hậu đệ nhất cộng hòa ở Sài Gòn, sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của người Việt Nam càng trở nên rõ rệt và trắng trợn hơn. Là một tay sai do thực dân Pháp gây dựng, Nguyễn Văn Thiệu không tin vào thiện tâm của người Mỹ và đặc biệt hiểu rõ sự tráo trở rất có phương pháp của quan thầy tới từ Washington, nhưng Nguyễn Văn Thiệu đã rất chịu khó “ngậm bồ hòn làm ngọt” trong quan hệ với người Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ lớn nhất trong việc củng cố quyền lực cá nhân của mình tại Sài Gòn.

Năm 1967, tranh thủ tối đa sự hậu thuẫn của quan thầy Mỹ và lực lượng rối rắm của đảng Dân chủ do chính ông ta lập ta, Nguyễn Văn Thiệu đã giành được chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống dù chỉ nhận được 38% sồ phiếu ủng hộ. Và ông ta đã to tiếng tuyên bố thành lập cái gọi là nền đệ nhị cộng hòa ở Sài Gòn. Nghe thì rất kêu nhưng chế độ mà Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu càng ngày càng phụ thuộc vào Washington, thậm chí còn hơn cả thời Ngô Đình Diệm. Càng tham quyền lợi cá nhân, Nguyễn Văn Thiệu càng làm suy yếu đi những rường mối xã hội bình thường ở Sài Gòn.

Trong bàn tay lèo lái của Nguyễn Văn Thiệu, mọi khái niệm dân chủ đều bị biến thành giả hiệu. Chính vì thế nên chiến thắng của ông ta trong cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam cộng hòa năm 1971 cũng đã chỉ là trò hề không hơn không kém dù tỉ lệ phiếu mà ông ta thu được là 94%… Ngay cả người Mỹ cũng đã phải bụm miệng cười thầm dù Nguyễn Văn Thiệu đã rất cố gắng cúc cung chiều ý quan thầy trong những toan tính chiến thuật và chiến lược trên chiến trường Việt Nam…

Tuy nhiên, càng cúc cung với những mưu toan mang tính thầy bà của Washington, Nguyễn Văn Thiệu càng cảm thấy khó ở trong thân phận tay sai. Chính vì thế nên lúc bắt đầu làm Tổng thống cái gọi là Việt Nam cộng hòa cũng là lúc Nguyễn Văn Thiệu bước vào hành trình mới để rốt cuộc, ông ra sẽ phải thù hận quan thầy cho tới tận ngày sau cuối của đời mình. Ai trả tiền, người ấy được quyền đặt nhạc, Washington đâu có hỉ xả gì để Nguyễn Văn Thiệu sử dụng nhân vật lực của họ vào những mưu đồ thư hùng cá nhân của ông ta. Đã làm tay sai thì không thể có tinh thần độc lập, dù có cố tình đặt tên nơi trú ngụ của mình là dinh Độc lập!

Tiểu nhân đắc chí

Cũng phải nói rằng, trong đội ngũ những nhân vật một thời làm mưa làm gió trên chính trường Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu vẫn là kẻ đa mưu và bản lĩnh vào loại hàng đầu. Theo lời kể của Băng ình, cựu Trưởng phái đoàn Báo chí Phủ Tổng thống, và Thiếu tá Châu Bích, từng phục vụ nhiều năm tại dinh Độc lập, những người đã có nhiều cơ hội gần gũi với Nguyễn Văn Thiệu, thực ra ông ta cũng chỉ là một lính tẩy với lối sinh hoạt ăn sóng nói gió rất huỵch toẹt, không cần màu mè… Nhưng đó cũng là một chính trị gia xu thời bậc nhất mà đến như Nguyễn Văn Ngân, người từng là phụ tá thân cận của ông ta trong ngót chục năm, cũng đã phải công nhận bằng những lời lẽ có vẻ như nhẹ nhàng nhưng lại rất chuẩn xác “một nhà chính trị thực tiễn mà hoàn cảnh và môi trường trưởng thành không thể tạo ông thành một kẻ tử đạo”!

Cái hoàn cảnh và môi trường trưởng thành đó là gì? Cũng theo ông Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Văn Thiệu đã sinh ra trong một gia đình trung nông, không đủ ruộng cày phải làm thêm ruộng rẽ của gia đình bà con. Lúc 5 tuổi đã phải đi giao cho bán bánh tét ngoài chợ, va đập với mọi thứ người chợ búa và sau này lớn lên, ở trong môi trường lính tẩy thực dân từ rất sớm nên đã trở thành một kẻ rất biết tranh hơn thua với những người khác và “luôn luôn đề cao cảnh giác trong mọi tình huống”.

Khi đã làm Tổng thống của cái gọi là đệ nhị cộng hòa ở Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu, cũng giống như người tiền nhiệm xấu số Ngô Đình Diệm, vẫn không bao giờ tin hẳn ngay cả đối với các cộng sự cao cấp nhất trong bộ máy chính quyền của mình. Ông Nguyễn Văn Ngân kể: “Dưới thời ông Diệm cũng như ông Thiệu, Hội đồng tổng, bộ trưởng chỉ họp bàn những công việc có tính cách “routine” (sự vụ) hàng ngày. Ngay cả Hội đồng an ninh quốc gia dưới thời đệ nhị cộng hòa cũng chỉ là “bình phong” để ông Thiệu hợp thức hóa các quyết định của mình…”. Làm việc dưới quyền điều hành của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ngay cả những nhân vật có vẻ như trọng yếu của chế độ Việt Nam cộng hòa như Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Trần Thiện Khiêm hay Phó thủ tướng, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên… lắm lúc cũng có tâm trạng của những kẻ chỉ được chầu rìa…

Ông Nguyễn Văn Ngân cũng nhận xét, ông Thiệu là “người luôn luôn che giấu tư tưởng của mình và là chuyên viên khai thác tư tưởng của người khác… Cho đến lúc chết có những người vẫn không hiểu ý nghĩ thực sự của ông về họ như thế nào. Một bà nghị sĩ có cặp mắt và nụ cười rất lẳng vẫn ra vô thường xuyên dinh Độc lập được xem là bạn thân của ông và ông Khiêm (tức Trần Thiện Khiêm, nguyên Thủ tướng trong chính quyền Sài Gòn – TG), nhưng khi tôi làm việc riêng với ông, ít khi ông gọi tên bà ta mà gọi là “con điếm xịa”. Một đại sứ Việt Nam cộng hòa được đánh giá là chuyên gia về các vấn đề Hoa Kỳ mà thực sự là nhân viên của cơ quan tình báo Mỹ, khi nhắc đến tên ông ta, mặt ông Thiệu thường đanh lại lộ vẻ khinh bỉ… Ông cực kỳ khinh ghét những thành phần trí thức khoa bảng là những người được xã hội ưu đãi về phương diện văn hóa lại làm gián điệp cho ngoại bang. Số người này rất nhiều, trong tất cả mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực: viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư đại học, cha cố, sư sãi, lãnh tụ chính đảng… Người Mỹ cũng có kế hoạch trồng người và nuôi dưỡng như cộng sản (?!), nhiều nhân vật đã được móc nối từ lúc còn là du học sinh là thành phần được xem là ưu tú của quốc gia hoặc thuộc hạng con ông cháu cha, nhiều bằng cấp kể cả học vị tiến sĩ quốc gia thuộc các lĩnh vực khoa học thực nghiệm đã được cấp phát một cách rộng rãi để khi trở về có thể trèo cao trong guồng máy chính quyền, hay chí ít để gây ảnh hưởng văn hóa…”.

Chính vì biết cách hành xử hư hư thực thực, khôn khéo ngụy trang và đánh lạc hướng đối với những người xung quanh, coi bất cứ ai dù thân cận đến mấy cũng có nhiều phần đối thủ hơn là phần bằng hữu, lại sẵn “bản lĩnh” gian trá được tôi luyện từ nhỏ nơi “kẻ chợ” nên Nguyễn Văn Thiệu đã lướt qua được nhiều cạm bẫy trên chính trường Sài Gòn đầy phản trắc. Nhưng rồi, khôn ngoan mấy cũng không thắng được mệnh giời, đã làm tay sai ngoại bang thì tất yếu sẽ chết tức tưởi vì ngoại bang một khi mục tiêu của ngoại bang thay đổi!

Nguyễn Văn Thiệu rất đa nghi, ngay cả (hoặc đặc biệt là) đối với các quan thầy Mỹ. Có lẽ ông ta suốt đời bị ám ảnh bởi bi kịch chết thảm của anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu, nên lúc nào ông ta cũng lo, lỡ đâu không đáp ứng được hết các yêu cầu của quan thầy và tất yếu bị quan thầy thay ngựa giữa dòng và loại bỏ khỏi cuộc chơi khốc liệt này. Cũng ông Nguyễn Văn Ngân đã phải công nhận: “Đồng minh Mỹ là một đồng minh bất trắc, khó tiên liệu, và ông Thiệu luôn ở trong tình trạng của người làm xiếc đi dây nguy hiểm. Có lần tôi lưu ý ông Thiệu về trường hợp Tổng Thống Magsaysay, Lý Thừa Vãn, Ngô Đình Diệm…, ông Thiệu nói với tôi là ông không có an ninh…”.

Cũng ông Nguyễn Văn Ngân nhận xét rằng, đối với Nguyễn Văn Thiệu, Mỹ là kẻ thù giấu mặt nguy hiểm hơn mọi kẻ thù khác. Ông ta không bao giờ tin tưởng vào những người liên hệ xa gần với Mỹ, dù đó là bà con của ông ta và được ông ta ủy thác đóng vai trò liên lạc viên với Mỹ…

Không tin bất cứ ai xung quanh mình, trong việc điều hành cái gọi là quân đội Việt Nam cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng chọn cách “chia để trị”, nghĩa là ông ta để mặc cho các viên tư lệnh quân đoàn tự tung tự tác và chỉ chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ mình ông ta, làm nhòa đi vai trò điều phối của cơ quan Bộ Quốc phòng. Sau này, khi đã lưu vong, chính Nguyễn Văn Thiệu trong một lần trả lời phỏng vấn cũng đã công nhận rằng, trên thực tế, mỗi viên tư lệnh quân đoàn là một “hòn đảo độc lập” và không có một guồng máy trung ương nào về việc dự thảo các kế hoạch chiến tranh một cách hữu hiệu tại Bộ Quốc phòng…

Trong cuốn “The Final Collapse”, Đại tướng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên cũng thừa nhận rằng, tất cả những quyết định về quân sự đều do Tổng thống Thiệu đưa ra và cái gọi là Bộ Tổng tham mưu là “hoàn toàn chỉ có tính cách cố vấn mà thôi… Chính vì chán cảnh hữu danh vô thực như thế nên tướng Cao Văn Viên đã xin từ chức Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam cộng hòa đến mấy lần…

Nhà nghiên cứu Đặng Văn Nhâm đã nhận xét rằng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và vợ là Nguyễn Thị Kim Anh “đã lợi dụng chức vụ nguyên thủ quốc gia và đệ nhất phu nhân để thực hiện nhiều dịch vụ phi pháp như: trấn lột tiền bạc của Nguyễn Cao Thăng (Theo thông tin của Đỗ Mậu, viết trong sách của mình, Nguyễn Cao Thăng nguyên là Giám đốc Hãng thuốc O.P.V., người Công giáo Phú Cam, từng làm dân biểu gia nô và Kinh tài cho anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu: “Nhiệm vụ chính trị của Thăng là xây dựng cho ông Thiệu một quốc hội bù nhìn mà đa số phải là người Công giáo. Chính ông Thăng thay ông Thiệu để giao thiệp, mua chuộc, hướng dẫn và kiểm soát quốc hội để điều hướng định chế gọi là “dân cử” này ủng hộ đường lối của ông Thiệu. Khi ông Thăng bất thình lình chết vì bệnh ung thư thì phụ tá của ông Thăng trong dinh Độc lập là ông Nguyễn Văn Ngân lên thay thế. Ông Ngân là người Công giáo Nghệ Tĩnh, bà con của Linh mục Cao Văn Luận. Đúng như giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ đã nói trong tác phẩm “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa”, hết Thăng rồi đến Ngân, họ chính là những người nắm giữ tay hòm chìa khóa của quỹ chi tiền cho các dân biểu, nghị sĩ và các lực lượng thân chính…”, tham nhũng, hối lộ, mua quan bán chức, chiếm đoạt công điền công thổ, mua chuộc dân biểu, nghị sĩ gia nô, dung túng bao che tội ác cho thân nhân, gia tộc, bọn tay chân bộ hạ để chia chác trong các dịch vụ: buôn bạch phiến, vàng và thuốc phiện, đầu cơ phân bón, đầu cơ gạo… Chính những hành động mafia của Nguyễn Văn Thiệu đã tạo nên tệ trạng kiêu binh, kiêu tướng lộng hành, coi thường luật pháp quốc gia, áp bức hãm hại dân chúng của một số tướng tá trong quân đội Việt Nam cộng hòa, mà ảnh hưởng còn kéo dài mãi đến nay ở hải ngoại vẫn chưa dứt…”

(còn nữa)

Phong Hoàn Công

An ninh Thế giới

Tổng thống Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu và con đường chiến bại (kỳ I)

Tháng Tư 17, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Nguyễn Văn Thiệu.

Tới ngày 30/4 này sẽ tròn 36 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vĩnh viễn từ thời điểm 30/4/1975 đã kết thúc một chế độ của những thế lực chỉ muốn dựa vào ngoại bang để mưu cầu danh lợi và rốt cuộc đã phải kết thúc đời mình trong cô tủi. Một trong những nhân vật như thế là Nguyễn Văn Thiệu, người đã ngồi trên ghế Tổng thống của chế độ Sài Gòn cũ tới cả một thập niên và trước lúc bắt buộc phải rời đi đã tức tưởi thốt lên những câu đầy oán hận đối với các quan thầy Mỹ.

Lỡ một bước, lỡ một đời

Nguyễn Văn Thiệu là người con thứ tám trong một gia đình có cha làm nghề đi biển và lo chuyện ruộng đồng tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận, nay là xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Một số tư liệu cho rằng, ông ta sinh ra vào ngày 5/4/1923. Tuy nhiên, cũng có nhiều giả thuyết khác nhau về ngày, giờ và năm sinh của ông ta. Những định kiến và những suy diễn dị đoan rất quen thuộc với chính trường Sài Gòn cũ đã càng làm tăng thêm sự rối lẫn xung quanh những dữ kiện này.

Theo sách “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” của Đỗ Mậu, người từng làm Giám đốc An ninh Quân đội dưới cái gọi là thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, khi gia đình họ Ngô trấn giữ chính quyền Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu dường như có một lá số tử vi cực oách: Tuổi Giáp Tý (sinh năm 1924), sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (tháng 11 Âm lịch) và cung Mệnh Viên cũng nằm ở Tý (?!). Thêm vào đó, theo sách bói toán, mệnh Kim của Nguyễn Văn Thiệu lại được nằm ở cung Thủy cũng là một sự rất hiếm hoi (?!). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nếu thực sự lá số tử vi của Nguyễn Văn Thiệu là tốt đẹp thì ông ta đã không phải kết thúc cuộc đời mình trong cảnh tha hương như thế ở tuổi 78, vào ngày 27/9 năm Tân Tỵ 2001.

Gia đình vị tổng thống tương lai của chế độ Sài Gòn cũ tuy không thuộc loại khá giả nhưng cũng có đủ điều kiện cho cậu con trai đi học tiểu học và trung học ở Phan Rang dù học lực của cậu bé lầm lì và đa nghi từ nhỏ rất tầm tầm. Hết lớp 9 ở quê nhà, Nguyễn Văn Thiệu đã lên Sài Gòn để học nghề ở Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị (sau đổi là Trường Cao Thắng) rồi lại nhảy sang học ở Trường Hàng hải dân sự.

Trong bối cảnh Việt Nam thời đó đang sôi sục phong trào chống ngoại xâm, Nguyễn Văn Thiệu đã không chọn con đường đi cùng nhân dân đứng lên bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc mà lại xung vào đội ngũ những tay sai mới cho thực dân Pháp chống lại đất nước. Có thể lúc đó chàng trai quê ra tỉnh không hình dung được rõ tất cả những hệ lụy nảy sinh từ định mệnh mà mình đã chọn mà chỉ vui sướng với những phù hoa hiện hữu nhỡn tiền dễ dãi trong kiếp làm lính phục vụ ngoại bang.

Nhưng đã đâm lao thì phải theo lao, Nguyễn Văn Thiệu không còn lối lui trong những nỗ lực công danh được xây dựng bởi cuộc đời binh nghiệp tưởng như phục vụ cho lý tưởng dân chủ tự do nhưng thực chất chỉ là theo đóm ăn tàn phản dân hại nước. Đây chính là một sai lầm định mệnh, khiến cho mọi nỗ lực sau này của Nguyễn Văn Thiệu đều trở thành vô nghĩa, mặc dù không thể phủ nhận được những phẩm chất lính tẩy cá nhân của ông ta.

Tháng 12/1948, Nguyễn Văn Thiệu đã vào học khóa sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ quan Đập Đá (Huế) cùng với hơn 60 phần tử khác. Tốt nghiệp trường này vào tháng 6/1949 (do nhu cầu chiến tranh nên quan thầy Pháp đã không thể dành nhiều thời gian hơn để đào tạo lứa tay sai đầu tiên của thế hệ “hậu 1945″), Nguyễn Văn Thiệu với quân hàm thiếu úy đã tham gia binh nghiệp trong lực lượng người Việt trong quân đội liên hiệp Pháp và đã được quan thầy cử tới khu vực miền Tây Nam Bộ. Ở đó có lẽ ông ta cũng đã sớm bộc lộ khá rõ sự hung hăng và trung thành với “mẫu quốc” nên đã được chọn đi thụ huấn ở trường sĩ quan căn bản bộ binh tại Coequidan, Pháp.

Trong thời gian trước năm 1954, là một sĩ quan trong cái gọi là quân đội quốc gia của chính quyền do thực dân Pháp dựng lên, Nguyễn Văn Thiệu đã cầm súng chống lại nhân dân ta ở nhiều nơi trong nước, ở cả Hưng Yên… Năm 1952, sau khóa đào tạo tiểu đoàn trưởng và liên đoàn lưu động tại Hà Nội, Nguyễn Văn Thiệu được điều chuyển cùng với Cao Văn Viên, lúc đó cũng là Trung úy, và Đại úy Đỗ Mậu về Bộ Chỉ huy Mặt trận Hưng Yên do Trung tá Dương Quý Phan làm chỉ huy trưởng. Tại đó, Đỗ Mậu được giữ chức Tham mưu trưởng, còn Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Trưởng phòng Ba và Cao Văn Viên giữ chức Trưởng phòng Nhì… Cũng cần phải nhớ rằng, Hưng Yên trong những năm tháng đó đã là nơi xảy ra rất nhiều vụ việc đẫm máu mà binh lính Pháp và tay sai đã gây ra cho đồng bào ta…

Nguyễn Văn Thiệu và McNamara.

Thực chất, việc Nguyễn Văn Thiệu được điều chuyển ra Hưng Yên không phải là một minh chứng cho sự tín nhiệm của bộ máy tay sai Pháp đối với ông ta, mà có lẽ là ngược lại, ít ra là nếu ta xét đoán theo hồi ức của Đỗ Mậu. Trong cuốn sách đã dẫn, Đỗ Mậu viết:

“Hồi bấy giờ, “ra Bắc” được xem như là một biện pháp chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam, vì tình hình sôi động của chiến sự và vì những tổn thất nặng nề về phía những quân nhân Việt Nam. Hầu hết những sĩ quan Việt Nam trung cấp bị đổi ra Bắc đều ít nhiều có hồ sơ chống Pháp, hoặc chống Bộ Tổng Tham mưu của tướng Nguyễn Văn Hinh…”.

Đỗ Mậu kể tiếp:

“Nguyễn Văn Thiệu, có thêm Trung úy Cao Văn Viên và tôi, được lệnh thuyên chuyển ra mặt trận Hưng Yên, trình diện với Trung tá Dương Quý Phan, một sĩ quan nổi tiếng thân Pháp, tay chân của tướng Cogny. Tư Lệnh miền Đông Bắc Việt đang đóng ở Hải Dương. Mặt trận Hưng Yên vừa được Bộ tư lệnh Pháp trao trả phần trách nhiệm lại cho quân đội quốc gia Việt Nam và đang bị những áp lực nặng nề. Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn chỉ định tôi làm Tham mưu trưởng, Cao Văn Viên làm Trưởng phòng Nhì và Nguyễn Văn Thiệu làm Trưởng phòng Ba. Còn phòng Tư vẫn do một đại úy người Pháp phụ trách. Bộ chỉ huy và trung tâm hành quân khu chiến được đặt tại ngôi giáo đường to lớn rộng rãi của tỉnh lỵ Hưng Yên mà linh mục bề trên đã vui lòng cho quân đội Pháp sử dụng từ trước.

Ba anh em chúng tôi được cấp phát chung một căn phòng nhỏ vừa đủ để ba cái ghế bố loại nhà binh và hàng ngày ăn cơm tại câu lạc bộ sĩ quan. Buổi tối, lúc trở lại phòng để chuẩn bị đi ngủ, Thiệu và tôi thường phân tích và luận bàn về tình hình chính trị và chiến sự đến khuya. Riêng Viên vốn tính ít nói nên chỉ thỉnh thoảng góp ý kiến mà thôi…”.

Vốn là người không nông nổi và sớm biết lo xa, nhưng lại không thể hình dung ra tương lai của mình ở ngoài kiếp làm tay sai cho ngoại bang, ngay trong thời gian đi theo quân Pháp ở Hưng Yên, trước thực tế ngày càng bất lợi cho “mẫu quốc”, Nguyễn Văn Thiệu đã sớm tính tới nước thay thầy đổi chủ. Trong hồi ký của mình, Đỗ Mậu nhận xét:

“Thiệu trầm tĩnh khôn ngoan, lại có khả năng về tham mưu, đã từng được Đại tướng Pháp De Linarès, Tư lệnh chiến trường Bắc Việt phê điểm rất tốt: Thông minh sắc bén, siêng năng, có phương pháp và tỉ mỉ. Sĩ quan hảo hạng. Có ý thức tuyệt hảo về tổ chức và bảo mật…”. Một số người thân cận với Nguyễn Văn Thiệu cũng nhận xét, ông ta là “người có tính tình rất bình dân mộc mạc, ăn nói huỵch toẹt theo nếp sống của người miền biển”…

Đỗ Mậu cũng có một nhận xét nữa về Nguyễn Văn Thiệu:

“Có một điều tôi vô ý là dù quen biết Thiệu đã lâu ngày nhưng mãi cho đến khi nhìn ông Thiệu qua màn ảnh truyền hình tôi mới thấy được cặp mắt “láo liên”, biểu hiện sự gian trá và làm cho ông Thiệu trở thành tay gian hùng, tham nhũng. (Cái tướng có cặp mắt láo liên của ông Thiệu cũng giống như cái ẩn tướng không dám nhìn thẳng vào mặt người đối thoại của ông Diệm đều là tướng người bất chánh)…”.

Còn đây là nhận xét của Cao Văn Viên về người chiến hữu từ thời trai trẻ của mình khi ông này so sánh Nguyễn Văn Thiệu với Ngô Đình Diệm ở trên cương vị tổng thống của chế độ Sài Gòn: “Mỗi người độc tài theo cách riêng. Tổng thống Diệm duy trì chế độ như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh chống Cộng… Còn Nguyễn Văn Thiệu thì theo đường lối “độc tài trong dân chủ”, vỏ ngoài dân chủ nhưng bên trong thì chi phối cả hai ngành lập pháp và tư pháp, bàn tay sắt trong đôi găng nhung… Nguyễn Văn Thiệu “đa nghi Tào Tháo” và không e ngại ban phát ân huệ để tạo phe cánh và chia rẽ đối phương như ông ta đã làm tại quốc hội. Ông ta chủ trương “làm chính trị phải lỳ”. Những năm tại chức, Nguyễn Văn Thiệu luôn bị ám ảnh bởi cái chết của Ngô Đình Diệm…”.

Và đây cũng là lời kể của Đỗ Mậu: “Một hôm Nguyễn Văn Thiệu đã hỏi tôi: “Theo anh thì cuộc chiến tranh hiện tại sẽ đi về đâu và tương lai Việt Nam sẽ như thế nào?”. Đó là câu hỏi có tính toàn bộ và lâu dài nhưng tôi vẫn xác quyết với Thiệu và Viên là “thế nào Pháp cũng bị bại trận và tìm giải pháp thỏa hiệp với Việt Minh, đất nước sẽ bị chia đôi nhưng không biết chia ở khu vực nào. Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào Việt Nam để chặn đứng mưu đồ bành trướng của Cộng sản ở Đông Nam Á và Hoa Kỳ sẽ đưa ông Diệm về nước nắm chánh quyền”…

Thực ra trên chiến trường và trong cương vị sĩ quan tác chiến, Nguyễn Văn Thiệu chưa bao giờ bộc lộ được những năng lực chiến đấu ở mức ít ra là khá khẩm. Trong những tình huống phải hành động, các đơn vị mà ông ta chỉ huy thường hay bị, lại nói theo cách diễn tả của Đỗ Mậu, “ôm quần mà chạy”.

Ở cuối giai đoạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng theo lời tường thuật nhiều phần phóng đại theo lợi ích cá nhân của Đỗ Mậu, khi lực lượng Việt Minh tấn công các cơ sở của bọn ngoại bang ở khắp cả nước, trong đó có Ninh Thuận mảnh đất quê hương của Nguyễn Văn Thiệu, “tiến chiếm và tiêu hủy các căn cứ ngoại vi” mà Đỗ Mậu nhận là ông ta đã xây dựng để che chở mặt Tây Nam của Bộ Chỉ huy Phan Rang, “trong một trận đánh ác liệt gần Tháp Chàm”, khi Nguyễn Văn Thiệu “đích thân dẫn một đơn vị đi tiếp cứu bị Việt Minh phục kích”, ông ta đã phải “ôm quần mà chạy”…

Mặc dầu những phẩm chất quân nhân của Nguyễn Văn Thiệu vẫn nặng phần hoang tưởng, nhưng trong bối cảnh cụ thể của chính trường Sài Gòn lúc ấy, trong thế bó buộc của đội ngũ nhân sự xuất thân từ lực lượng đã cam tâm làm tay sai cho Pháp nhưng vẫn còn cơ để thay thầy đổi chủ, Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn là một trong những gương mặt có thể đầu tư được đối với những thủ lĩnh sắp sửa nắm quyền ở đây với sự trợ giúp của ngoại bang.

Nói cho cùng, lý lịch công vụ của ông ta cũng còn hơn rất nhiều kẻ đồng thời. Chính vì thế nên năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại nhục nhã và phải rời khỏi Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu đã gia nhập cái gọi là quân lực Việt Nam cộng hòa, phục vụ chính quyền Ngô Đình Diệm và được xếp vào vị trí chỉ huy của Sư đoàn 1 Bộ binh của quân đội Sài Gòn đóng tại Huế. Rồi năm 1958, ông ta lại được đưa lên cấp trung tá, giữ chức chỉ huy trưởng Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt. Những ông chủ mới từ bên kia đại dương tới cũng đã kịp để ý tới viên sĩ quan trầm tính và có vẻ đa mưu Nguyễn Văn Thiệu. Chính vì thế nên năm 1957, Trung tá Thiệu được cho đi học một khóa chỉ huy và tham mưu tại Command and General Staff College ở Ft. Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ (tuy nhiên, trong danh sách khóa sinh tốt nghiệp học đường quân sự này đã không có tên Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, có thể vì một lý do gì đó mà ông ta đã không dự thi tốt nghiệp).

Năm 1959, Nguyễn Văn Thiệu cũng được đi tu nghiệp tại trường phối hợp kế hoạch đồng minh ở Okinawa, Nhật Bản, và năm 1960 trở lại Mỹ học về vũ khí mới ở Fort Bliss. Chính trong những chuyến đi như thế, CIA đã tiếp cận ông ta để tìm hiểu rõ hơn về một con bài có thể sẽ trở thành đắc dụng trên chính trường Sài Gòn.

Lừa thầy phản bạn

Nhìn chung, dưới chế độ Ngô Đình Diệm, con đường binh nghiệp của Nguyễn Văn Thiệu đã được rộng mở vì như Đỗ Mậu nhận xét, tính xu thời của viên sĩ quan này, dám “dứt khoát bỏ đạo Phật để theo Công giáo bên vợ” (vợ ông ta là một bà sơ người Mỹ Tho xuất dòng) nên đã được các linh mục vốn rất có quyền uy nâng đỡ và đang làm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh hành quân cho tướng Dương Văn Minh đã được Ngô Đình Diệm cử giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt.

Đỗ Mậu kết tiếp: “Ngày ông Diệm có ý định cử Thiệu giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 5 (gồm toàn những binh lính là người Nùng từ Bắc vào theo chân thực dân Pháp, rất lì lợm và trung thành, được coi như tinh binh của chế độ – TG) , ông bảo tôi làm tờ trình về Thiệu. Trong mục ý kiến, tôi đã viết rằng: “Thiệu không theo một đảng phái nào mặc dù có người anh ruột theo đảng Đại Việt. Ông Thiệu là một trong số những sĩ quan ưu tú nhất của quân đội…”. Cũng Đỗ Mậu nhận xét: “Dù sao thì Công giáo mới là yếu tố chính để hình ảnh Nguyễn Văn Thiệu được ghi khắc vào con tim ông Diệm để Thiệu được ông tín nhiệm và nâng đỡ…”.

Theo một số nguồn tin, cuối năm 1960, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu từ Mỹ trở về Sài Gòn và được Ngô Đình Nhu xếp vào làm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh hành quân do tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh. Có ý kiến cho rằng, Bộ tư lệnh hành quân này thực ra chỉ là một tổ chức mới được lập ra để làm vì cho tướng Minh ngồi chơi xơi nước vì chính quyền Diệm – Nhu lúc đó đã nghi ngờ tướng Minh có mối quan hệ với Hà Nội qua người em trai là một cán bộ cao cấp, đảng viên cộng sản.

Vì sợ rút dây động rừng, và lại cũng không có những chứng cớ rõ ràng nên Ngô Đình Diệm đành ngậm bồ hòn làm ngọt và vô hiệu hóa tướng Dương Văn Minh bằng cách này. Hiểu rõ tình thế của mình, Nguyễn Văn Thiệu đã đi một nước cờ khá cao là xin gia nhập đảng cần lao để lấy lòng Ngô Đình Nhu hòng mua được sự tin tưởng hơn và có thể nhảy lên chức vụ hữu lợi hơn. Không những thế, Nguyễn Văn Thiệu còn cống hiến cho cố vấn Nhu nhiều ý kiến mà ông ta cho là rất xuất sắc để lấy lòng gia đình họ Ngô.

Sau khi Tổng thống chính quyền Sài Gòn Ngô Đình Diệm quyết định giải tán Bộ tư lệnh hành quân và đưa tướng Dương Văn Minh về ngồi ở một vị trí thực ra cũng hữu danh vô thực khác là “cố vấn quân sự” của Tổng thống, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu được cử đi làm Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế. Đầu năm 1963 (hoặc cuối năm 1962, theo một số nguồn tư liệu khác), khi thấy tình hình có vẻ lộn xộn và bất trắc, Ngô Đình Diệm đã đưa Nguyễn Văn Thiệu về làm Chỉ huy Sư đoàn 5 đồn trú ở Biên Hòa. Đại tá Thiệu còn được cố vấn Ngô Đình Nhu trao nhiệm vụ giải cứu thủ đô khi có đảo chính. Trớ trêu thay! Bởi lẽ chính với cương vị này, ông ta đã tham gia cuộc binh biến ngày 1/11/1963 vì mặc dù được hưởng ân huệ không ít của chế độ Ngô Đình Diệm nhưng thực tâm, trong mắt của Nguyễn Văn Thiệu, ông quan to còn lại từ triều đình nhà Nguyễn này, với rất nhiều tham vọng và định kiến, khó có thể trở thành minh chủ đối với một đội ngũ tướng lĩnh nhiều tham vọng và xu thời của Sài Gòn khi đó.

Và Nguyễn Văn Thiệu đã như “buồn ngủ gặp chiếu manh” khi một nhóm tướng lĩnh chóp bu và sĩ quan cao cấp của chế độ Sài Gòn dưới sự khuyến khích khá trắng trợn của quan thầy Mỹ đã tiến hành cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 để lật đổ chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu.

Thực ra, trong cuộc đảo chính này, Nguyễn Văn Thiệu, khi ấy vẫn chỉ là đại tá, chỉ là kẻ theo đóm ăn tàn, hành xử theo lệnh của CIA, cụ thể là thông qua Lucien Conein, đặc sứ của CIA ở Sài Gòn lúc đó. Một nguồn tư liệu cho biết, chiều 31/10/1963, theo lệnh của Lucien Conein, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu đã điều động 2 trung đoàn của Sư đoàn 5, một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp, nói là đi hành quân ở Phước Tuy, nhưng khi đến ngã ba xa lộ Biên Hòa và quốc lộ 15 đi Vũng Tàu thì lại nhận được lệnh dừng ở đó chờ đợi.

Sáng 1/11/1963, Thiếu tá Nguyễn Bá Liên, Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến, cháu của Đỗ Mậu, ra lệnh hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Đại úy Trần Văn Nhựt và Đại úy Lê Hằng Minh đi hành quân ở núi Thị Vãi, Bà Rịa, rồi bất ngờ quành về Sài Gòn tiến chiếm Tổng nha Cảnh sát, Bộ Nội vụ, Nha Truyền tin và Đài Phát thanh Sài Gòn. Còn tướng Mai Hữu Xuân đưa tân binh quân dịch ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung về chặn các ngả vào Sài Gòn.

Tiếp theo, đến 1 giờ trưa cùng ngày, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu cũng bất ngờ ra lệnh cho cả hai trung đoàn thuộc sư đoàn do mình chỉ huy hành quân về Sài Gòn để một trung đoàn đóng ở Phú Lâm, còn một trung đoàn đóng ở ngã tư Hàng Xanh nhằm ngăn chặn quân cứu viện từ ngoài tiến về giải cứu thủ đô của nền đệ nhất cộng hòa. Bản doanh của Bộ tư lệnh tiền phương Sư đoàn 5 do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu khi đó đã được đặt tại Trường Đại học Sư phạm ở đường Cộng hòa.

Trong vòng chơi nhớp nháp của cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, Nguyễn Văn Thiệu đã hành xử theo kiểu đòn xóc hai đầu rất giả nhân giả nghĩa. Một mặt, ông ta nhất nhất tuân theo lệnh của những viên tướng cầm đầu đảo chính nhưng mặt khác, vẫn để cho mình kẽ hở để sau này “thanh minh thanh nga” về sự bất đắc dĩ của mình. Vào lúc 1 giờ rưỡi ngày 1/11/1963, tại một vài nơi ở Sài Gòn đã vang lên tiếng súng.

Khi ông Cao Xuân Vĩ, Tổng Giám đốc Thanh Niên, đã gọi cho cố vấn Ngô Đình Nhu, đang ở dinh Gia Long, hỏi thăm tin tức, ông Nhu bảo ông Vĩ đi quanh thành phố xem binh tình ra sao. Ông Vĩ lái xe đi một vòng rồi vào báo tin cho ông Nhu biết tình hình có vẻ vẫn yên tĩnh. Ngô Đình Nhu hỏi: “Chúng nó lấy lực lượng nào để đảo chính?”. Bản thân cố vấn Nhu cũng không thể hiểu được rằng, người vừa sáng nay vào gặp ông ta, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, để nói chuyện và báo cáo tình hình vẫn yên tĩnh, thực ra lại đang chỉ huy Sư đoàn 5 tham gia đảo chính.

Trong tình cảnh rối bời và chua chát của chính trường Sài Gòn lúc ấy, Nguyễn Văn Thiệu cũng rất khéo lảng chuyện vì khi Trung tá Lê Như Hùng, Tham mưu trưởng biệt bộ tại Phủ Tổng thống đặc trách liên lạc với quân đội, được gọi đến dinh Gia Long để liên lạc với những đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn và liên lạc ngay với Đại tá Nguyễn Văn Thiệu thì được trả lời rằng viên chỉ huy sư đoàn này “đang đi hành quân” (!). Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách Sư trưởng Sư đoàn 5, đã không làm việc gì để thay đổi tình thế hòng giúp cho kết cục chính trị của gia đình họ Ngô đỡ thảm thiết hơn.

Thế nhưng, sau khi anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã bị sát hại, Nguyễn Văn Thiệu, như sau này ông ta kể lại, đã về trình diện Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và tiếp theo, ra lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào thi hài anh em Diệm, Nhu trước khi về nhà. Và sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, hàng năm cứ đến ngày này, Nguyễn Văn Thiệu lại có lễ xin thánh cầu hồn cho anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại dinh Độc lập… Một cử chỉ lễ nghĩa thật lòng hay là một hành động nước mắt cá sấu?

Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, Nguyễn Văn Thiệu đã có chân trong cái gọi là Hội đồng quân nhân cách mạng do Dương Văn Minh, lúc đó là trung tướng cầm đầu. Trong nhóm này với những chức danh nghe rất kêu còn có đệ nhất Phó chủ tịch, Trung tướng Trần Văn Đôn; đệ nhị Phó chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính; Tổng thư ký kiêm ủy viên ngoại giao, Trung tướng Lê Văn Kim; uỷ viên chính trị, Thiếu tướng Đỗ Mậu; uỷ viên quân sự, Trung tướng Trần Thiện Khiêm; uỷ viên kinh tế, Trung tướng Trần Văn Minh; uỷ viên an ninh, Trung tướng Phạm Xuân Chiểu cùng các ủy viên khác như các Trung tướng Lê Văn Nghiêm, Mai Hữu Xuân, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có (người từng đậu thủ khoa trong khóa đào tạo thiếu úy của thực dân Pháp ở Đập Đá cùng Nguyễn Văn Thiệu)… Tiếp theo, gần cuối năm 1964, Nguyễn Văn Thiệu còn được phong lên cấp thiếu tướng, giữ chức Tư lệnh quân đoàn IV và vùng 4 chiến thuật kiêm đại biểu chính phủ miền Tây…

(còn nữa)

Phong Hoàn Công

An ninh Thế giới

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và những trang đời tức tưởi

Tháng Tư 17, 2011 Phản hồi đã bị khóa

Nguyễn Văn Thiệu chơi trống cùng đội Hướng đạo.

Chiều thứ sáu 28/9/2007 vừa qua tại nhà thờ St. Patrick, số 389 E. Santa Clara St. ở San Jose (Mỹ) đã diễn ra một lễ cầu nguyện khá lặng lẽ cho một người Việt có tên họ rất quen thuộc: Nguyễn Văn Thiệu. Con người từng trên dưới một thập niên làm Tổng thống của chính thể Việt Nam Cộng hòa do Washington hậu thuẫn và dung dưỡng, giờ đây chỉ để lại những đánh giá đầy mâu thuẫn và chủ yếu là tiêu cực, kể cả trong hàng ngũ những người từng ở cùng chiến tuyến với ông ta.

Đã tức tưởi hết lời trách móc những nhà bảo trợ đến từ bên kia Thái Bình Dương trong nguy khốn đã “đem con bỏ chợ” trong những ngày cuối tháng 4/1975, Nguyễn Văn Thiệu vẫn phải kết thúc kiếp nhân sinh của mình trên đất Mỹ (tại TP Boston) vào ngày 29/9/2001 ở tuổi 78.

Một đời xáo trộn

Trong số những viên tướng trở thành chính trị gia thành đạt ở Sài Gòn trước kia, Nguyễn Văn Thiệu có lẽ là một người đã mất công giấu giếm hành tung thực của mình nhất.

Nguyễn Văn Thiệu quê ở thôn Tri Thủy, làng Khánh Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Có nhiều thông tin khác nhau về ngày sinh của Nguyễn Văn Thiệu. Vốn mê tín, hay tin vào tướng số và bói toán, ngay từ hồi trẻ, Nguyễn Văn Thiệu đã rất không thích để lộ “thiên cơ”, sợ bị các đối thủ lợi dụng mà gây hại cho ông ta.

Một số nguồn tin cho rằng, ông ta sinh ngày 5/4/1923. Một số nguồn tin khác lại cho rằng Nguyễn Văn Thiệu thường khai ngày sinh của mình là ngày 25/12/1924 cho được “ngày âm đẹp” là ngày 18 tháng 11 năm Giáp Tý (?!).

Gia đình Nguyễn Văn Thiệu không thuộc loại cự phú nhưng cũng đủ sức cho con trai đi học hết các bậc tiểu và trung học tại Phan Rang, thủ phủ của tỉnh Ninh Thuận.

Lớn lên, Nguyễn Văn Thiệu vào Sài Gòn kiếm kế sinh nhai, thoạt tiên học ở các trường dân sự như Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị hay Trường Hàng hải nhưng tới năm 1948 đã ra Trường Sĩ quan Đập Đá ngoài Huế để theo học khóa sĩ quan trung đội trưởng trong vòng một năm.

Có vẻ như ngay từ ngày trẻ Nguyễn Văn Thiệu đã biết cách gây dựng uy tín với cấp trên bằng sự khôn ngoan và khéo léo trong công vụ nên mới chỉ ở miền Tây được một thời gian ngắn, ông ta đã được đưa sang tu nghiệp ở Coequidan.

Khi chính phủ bù nhìn do thực dân Pháp dựng nên lập ra các đơn vị quân sự, Nguyễn Văn Thiệu đã trở thành một trong những trung úy trẻ đầu tiên của lực lượng này. Và ông ta đã thăng tiến khá nhanh. Mới ngoài 30 tuổi, năm 1955, Nguyễn Văn Thiệu đã là Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh tại Huế.

Ba năm sau, ông ta được thăng cấp trung tá và giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Các cố vấn Mỹ, lúc đó mới sang miền Nam Việt Nam để giúp đỡ chính quyền của Ngô Đình Diệm, đã mau chóng để ý tới viên sĩ quan thâm sâu và kín võ này.

Kết quả là Nguyễn Văn Thiệu đã được đưa sang tu nghiệp hàng loạt khóa quân sự cao cấp về tham mưu, chính trị tại các cơ sở đào tạo quân sự của Mỹ như Port Leavenwort, Fort Blifshay Okinawa trên lãnh thổ Nhật…

Trong giai đoạn hết sức nhạy cảm và phức tạp đối với chế độ của anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, khi các cố vấn Mỹ luôn toan tính thay đổi luật chơi trên chính trường Sài Gòn, từ năm 1959 tới năm 1963, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu đã ngồi ở vị trí cực kỳ quan trọng và có thế lực trong các cuộc thay ngựa giữa dòng là chức Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, đồn trú ngay tại Biên Hòa.

Và ông ta đã tận dụng uy lực quân sự trong tay để tìm cho mình những mối lợi lớn nhất trong các cuộc binh biến. Ngày 1/1/1963, nhờ đã đóng góp kịp thời vào việc dẹp bỏ anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu, Nguyễn Văn Thiệu đã được thăng làm thiếu tướng, giữ chức Tư lệnh Quân đoàn IV.

Hai năm sau, cũng trong một cuộc xáo lộn các quân bài chính trị ở Sài Gòn, ngày 18/1/1965, Nguyễn Văn Thiệu không chỉ được thăng trung tướng, mà còn được cử Đệ nhị Phó Thủ tướng trong nội các do ông Trần Văn Hương cầm chịch.

Ngày 4/9/1967, trong một cuộc bầu cử đã bị lũng đoạn, Nguyễn Văn Thiệu đã đắc cử Tổng thống chính quyền Sài Gòn. Ông ta cũng đã tái đắc cử vào vị trí này tháng 4/1972 với nhiều tai tiếng.

Cay cú ra đi

Mùa xuân năm 1975, trước sức tấn công như vũ bão của lực lượng vũ trang cách mạng và sự nổi dậy của nhân dân miền Nam, lại phải ở trong thế bị quan thầy bỏ của chạy lấy người, Nguyễn Văn Thiệu đã phải tuyên bố từ chức trong một bài diễn văn đầy ấm ức đối với người đồng minh Washington vào lúc 19h30′ ngày 21/4/1975.

Bắt đầu những giờ phút cáo chung của một chế độ Sài Gòn với bí quyết trụ sinh là phò tá các lợi ích của ngoại bang. Ông Trần Văn Hương lên thay thế Nguyễn Văn Thiệu, dù rất lão luyện trong trò chơi chính trị nhưng cũng chỉ sau vài ngày đã cảm thấy bế tắc nên bàn giao quân quyền cho tướng Dương Văn Minh.

Và ngày 30/4/1975, quân đội giải phóng đã tràn vào Dinh Độc Lập, buộc tướng Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Trước đó không lâu, Nguyễn Văn Thiệu đã sang Đài Loan rồi tới nước Anh tị nạn bằng chiếc DC-6 của Tòa Đại sứ Mỹ từ Thái Lan bay qua Sài Gòn trong đêm 25/4/1975.

Trong cuốn “Decent Interval”, trưởng đại diện CIA ở Sài Gòn năm 1975 Frank Snepp kể lại rằng, vào hồi 5h30′ chiều 25/4, trùm CIA Thomas Polgar gọi tướng Charles Timmes và anh ta vào văn phòng và ra lệnh cho họ phải giúp cho ông ta đưa Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm đi Đài Loan vào tối hôm đó.

Khoảng 8h30′ tối, tướng Timmes, Frank Snepp cùng 2 nhân viên CIA khác lái ba chiếc xe đến tư gia của Trần Thiện Khiêm trong Bộ Tổng tham mưu và khoảng 9h tối thì Polgar cũng đến nơi.Ít lâu sau thì một chiếc xe Mercedes chạy đến đậu ngay trước nhà.

Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm vội vã bước vào nhà. Theo lời thuật của Frank Snepp, khi ấy, Nguyễn Văn Thiệu có mái tóc bạc chải bóng loáng, quần áo ủi thẳng nếp và trong lúc trời còn tranh tối tranh sáng, ông ta có vẻ giống như là “một người mẫu trong Tạp chí Gentleman’s Quarterly hơn là một cựu tổng thống”.

Đoàn tùy tùng của ông Thiệu người nào người nấy đều to con vạm vỡ tay xách những chiếc va li quá khổ đến những chiếc xe của Toà đại sứ Mỹ và họ đòi phải để cho họ đích thân đặt những chiếc va li đó vào thùng sau xe.

Frank Snepp nói ông ta không biết trong những va li đó đựng gì, tuy nhiên có vẻ rất nặng vì khi những hành lý đó được đặt xuống xe thì nghe như có tiếng kim loại chạm vào kim loại…

Theo nhận định của Frank Snepp, thực chất đấy là một cuộc bỏ trốn vì khi ra đi, Nguyễn Văn Thiệu đã chẳng có một giấy tờ gì chính thức biện minh cho cuộc ra đi không ngày trở lại này.

Còn theo một nguồn tin khác, để cho việc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu có vẻ hợp pháp, ông Trần Văn Hương lúc đó đã ký một sắc lệnh cử viên cựu Tổng thống này làm đại diện đặc biệt đến Đài Loan để phân ưu về việc Tổng thống Tưởng Giới Thạch từ trần ngày 5/4.

Thật ra thì đây là một chuyện khôi hài vì tang lễ của cố Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã diễn ra tại Taipei cách đó ba tuần lễ và người đã đại diện cho chính quyền Sài Gòn “phân ưu” chính là ông Hương…

Cũng theo Frank Snepp, anh ta đã lái chiếc xe chở Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay Tân Sơn Nhất. Xe đi từ ngôi nhà ở trong khu Bộ Tổng tham mưu của Trần Thiện Khiêm, người giữ chức Thủ tướng trong liên danh với Nguyễn Văn Thiệu.

Sau khi tới Đài Loan, Nguyễn Văn Thiệu đã không đi tiếp tới Mỹ mà xin tới định cư tại Anh. Tới cuối đời, Nguyễn Văn Thiệu mới sang định cư tại Boston và chết vì bệnh ở đó vào ngày 29/9/2001. Ông ta không để lại một trang hồi ký nào vì ngại công bố những suy nghĩ thực của mình về một chặng đường đen bạc của chế độ Sài Gòn mà giờ đây, nhiều người buộc cho ông ta trọng tội góp tay vào làm cho nó tan rã.

Một kiếp phân thân

Tìm hiểu những tư liệu viết về Nguyễn Văn Thiệu do những người từng có thời gian làm việc ở gần ông ta, có thể thấy rõ đó là một nhân vật luôn mang trong mình một tâm trạng mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Và vì thế nên ông ta hay bị buộc tội giả nhân giả nghĩa.

Là người đã chỉ huy tấn công vào Dinh Gia Long ngày 1/11/1963, nơi anh em Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu trú ngụ, Nguyễn Văn Thiệu sau khi anh em Diệm – Nhu bị sát hại lại tỏ ra “ân hận”. Và cũng hay công khai lộ lòng “trắc ẩn” bằng cách cùng gia đình luôn luôn tham dự các thánh lễ tưởng niệm Ngô Đình Diệm (?!).

Nguyễn Văn Thiệu cho rằng, tuy là Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh nhưng đối với hàng tướng lĩnh quyền cao chức lớn, tại Bộ Tổng tham mưu cũng như Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 của Sài Gòn, thì ông ta cũng chỉ là một thuộc cấp phải nhắm mắt thi hành lệnh theo trên, đúng kỷ luật nhà binh.

Ông ta cũng tự biện minh rằng, ông ta đã chỉ ra lệnh tấn công Dinh Gia Long khi biết chắc Ngô Đình Diệm không còn trong đó (có ý kiến cho rằng, Nguyễn Văn Thiệu đã lần chần trong việc này vì chờ xem bên nào thắng thế thì theo, chỉ khi biết chắc Ngô Đình Diệm không còn cơ phản công lại phe đảo chính nữa thì ông ta mới hạ lệnh tấn công Dinh Gia Long)…

Và cũng nhờ cú tấn công quyết định này, dồn anh em Diệm – Nhu vào chỗ bế tắc hoàn toàn, đành phải “tẩu vi thượng sách” mà lực lượng đảo chính mới có cơ hội truy bắt hai người này để hạ thủ.

Bi kịch lớn nhất của Nguyễn Văn Thiệu mà ông ta đã cay đắng ngậm bồ hòn những năm tháng ly hương nơi đất khách là sự nhận thức ra sự thật: Cả đời ông ta đã uổng công phục vụ cho những thế lực ngoại bang miệng nam mô, bụng một bồ dao găm.

Một thuộc cấp vào loại thân tín của Nguyễn Văn Thiệu gần đây đã kể: Năm 1983, trong một buổi chiều lái xe đưa ông này đi xem TP London (Anh), Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ vào cái ảnh nhỏ của đứa con út sinh tại đó sau năm 1975 gắn gần tay lái và kể, khi đứa bé mới tập nói, ông ta đã dạy cho nó rằng, “một trong hai kẻ thù của con là Mỹ…”.

Bình sinh, Nguyễn Văn Thiệu luôn tỏ ra ác cảm với những ai trên chính trường Sài Gòn thân Mỹ, như ông ta hoặc hơn ông ta. Một phụ tá thân cận của Nguyễn Văn Thiệu thuật lại là ông ta hay nói về những kẻ thân CIA bằng câu rất “chợ” là “thằng này hay thằng kia là con điếm xịa…”.

Thế nhưng, oái oăm thay, bản thân ông ta, cho tới phút cuối cùng trước khi thất thế, lại luôn cúc cung tận tụy phục vụ cho quyền lợi của Washington ở Việt Nam. Tâm địa thật của ông ta đã bộc lộ rõ nhất trong những lời cuối cùng trên chính trường Sài Gòn trước khi từ chức tháng 4/1975.

Có lẽ trên thế giới cũng ít có người lãnh đạo (dù hình thức) của một chính thể nào lại công khai thừa nhận thái độ làm tay sai ngoại bang cho mình như trong bài phát biểu đó. Nguyễn Văn Thiệu đã nói huỵch toẹt ra ân oán giang hồ với quan thầy, đại loại là: “…

Người Mỹ đưa viện trợ nhiều thì chúng tôi đánh nhiều, còn đưa ít thì chúng tôi đánh ít. Cũng chẳng khác một người đưa ít tiền mà đòi một bữa ăn thịnh soạn thì làm sao chúng tôi có thể làm được…”.

Những năm cuối đời của Nguyễn Văn Thiệu thực sự tủi nhục. Ông ta dường như không thể xác định được vị trí của mình trong tâm thế cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Phần đông số này đều oán hận ông ta.

Một thuộc cấp của Nguyễn Văn Thiệu về sau thuật lại, năm 1990, Nguyễn Văn Thiệu có buổi nói chuyện với một số đồng bào tại Westminster, California. Một người đàn bà được một tổ chức chống đối sắp đặt đã cầm micro chửi bới ông ta nặng nề.

Không biết thanh minh gì hơn, Nguyễn Văn Thiệu chỉ trả lời: “Tôi rất thông cảm với nỗi căm phẫn của bà…”. Cũng viên thuộc cấp này nhận xét: “Tôi hiểu sự im lặng của ông ta, nỗi cô đơn và cay đắng ông ta mang theo đến cuối đời”…

Phong Hoàn Công

An ninh Thế giới – Sổ tay

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.